vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đ a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hải Y. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hải Y ly hôn với anh Nguyễn Lê D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Đ a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15-6-2025
“Về việc ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thanh Thu Hằng và bà Đặng Thị Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Hải Y, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có đơn xin xét xử vắng mặt. 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Lê D, sinh năm 1998. Địa chỉ: Số C đường N, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 23/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Hải Y trình bày:

Chị Lê Hải Y chung sống với anh Nguyễn Lê D có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện theo quy định pháp luật vào ngày 28/10/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng đầu năm 2024 thì cả hai xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên chị đã bỏ về quê tại Nghệ An sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Được biết hiện tại anh Nguyễn Lê D cũng đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Hải Y quyết định ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Nguyễn Tú A, sinh ngày 02/4/2023, chị yêu cầu giao con cho chị nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng, tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Lê D trình bày:

Anh Nguyễn Lê D và chị Lê Hải Y chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 28/10/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Thời gian chung sống có xảy ra mâu thuẫn, nay chị Lê Hải Y yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 02/4/2023; anh đồng ý giao con cho chị Lê Hải Y nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng, tài sản, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hải Y, chị Lê Hải Y ly hôn với anh Nguyễn Lê D. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Tú A, sinh ngày 02/4/2023 cho chị Lê Hải Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết về nuôi con, bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hải Y và anh Nguyễn Lê D chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 28/10/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Anh chị đều cho rằng chỉ chung sống với nhau một khoảng thời gian đến đầu năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ly thân cho đến nay, hiện cả hai không còn tình cảm, không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, nay chị Lê Hải Y yêu cầu ly hôn thì anh Nguyễn Lê D đồng ý. Nhận thấy đời sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đều có nguyện vọng được ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Hải Y, chấm dứt quan hệ vợ chồng giữa anh chị.

Về con chung: Chị Lê Hải Y và anh Nguyễn Lê D có 01 con chung là Nguyễn Tú A, sinh ngày 02/4/2023. Chị Lê Hải Y yêu cầu được nuôi dưỡng con đến khi trưởng thành, anh Nguyễn Lê D cũng đồng ý với yêu cầu này của chị Y. Nhận thấy thoả thuận này của anh chị không vi phạm pháp luật, hiện anh D đang bị tạm giam nên việc giao con cho chị Y nuôi là phù hợp và đảm bảo cuộc sống cho con nên cần chấp nhận yêu cầu này của chị Y.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Hải Y và anh Nguyễn Lê D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Hải Y phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Đ a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hải Y.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Hải Y ly hôn với anh Nguyễn Lê D.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày 02/4/2023 cho chị Lê Hải Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; không được cản trở người không trực tiếp nuôi trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Hải Y và anh Nguyễn Lê D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí: Chị Lê Hải Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007731 ngày 28/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định.

Cỡ chữ