vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị Thủy đối với bị đơn anh Quàng Văn Thoại.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị Thủy được ly hôn anh Quàng Văn Thoại. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị T + Quàng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị Thủy đối với bị đơn anh Quàng Văn Thoại.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày 11-8-2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Huân và bà Bạc Thị Thanh Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Cầm Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2025/TLST-HN&GĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị Thủy; sinh năm 1985; nơi ĐKTT: Bản Pha Nàng, xã Quài Nưa, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên (nay là bản Pha Nàng, xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên). Nơi ở hiện nay: Bản Sáng, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên (nay là bản Sáng, xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên) - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Quàng Văn Thoại, sinh năm 1987; địa chỉ: Bản Pha Nàng, xã Quài Nưa, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên (nay là bản Pha Nàng, xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên) - Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2025 và bản tự khai nguyên đơn chị Lò Thị Thủy trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, đăng ký ngày 25/6/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Quài Nưa, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên (nay là Ủy ban nhân dân xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên). Đời sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Quàng Văn Thoại hay đi đánh bạc, nợ nần nhiều dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau và hay đánh vợ. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay, từ khi sống ly thân anh chị không còn quan tâm, thương yêu và liên lạc chia sẻ gì. Tình cảm vợ chồng không còn, chị Lò Thị Thủy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quàng Văn Thoại.

Về con chung: Chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại có 02 con chung; cháu Quàng Phương Uyên, sinh ngày 09/12/2011 và cháu Quàng Thanh Tùng, sinh ngày 27/12/2021, hiện chị Lò Thị Thủy đang trực tiếp nuôi dưỡng các con. Khi ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Quàng Phương Uyên, sinh ngày 09/12/2011 và cháu Quàng Thanh Tùng, sinh ngày 27/12/2021 cho chị Lò Thị Thủy trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên và có khả năng lao động. Chị Lò Thị Thủy là viên chức công tác tại Trung tâm y tế Tuần Giáo, thu nhập ổn định là 11.000.000đ (mười một triệu đồng)/tháng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại không có.

Ngày 03/4/2025 thụ lý vụ án, ngày 10/4/2025 anh Quàng Văn Thoại đã nhận được thông báo thụ lý vụ án qua đường bưu điện. Đến ngày ngày 01/7/2025 Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của đương sự về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi con của các bên đương sự, qua xác minh cho thấy: Chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quài Nưa, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên (nay là Ủy ban nhân dân xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên), anh chị sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh Quàng Văn Thoại hay đi đánh bạc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau; anh chị có 02 con chung hiện đang ở cùng chị Lò Thị Thủy; về điều kiện nuôi con, chị Lò Thị Thủy là viên chức công tác tại Trung tâm y tế Tuần Giáo, có thu nhập ổn định. Anh Quàng Văn Thoại đang sinh sống cùng mẹ đẻ bà Quàng Thị Luấn, nghề nghiệp làm nông nghiệp và lái xe thường xuyên không ở nhà; bà Quàng Thị Luấn từ chối nhận các văn bản tố tụng, nên không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Quàng Văn Thoại. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông trưởng bản Pha Nàng theo quy định của pháp luật.

Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết các văn bản tố tụng anh Quàng Văn Thoại vẫn không có mặt nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Ngày 02/7/2025, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự nhưng anh Quàng Văn Thoại vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về sự vắng mặt không có lý do của anh Quàng Văn Thoại và tiến hành tống đạt thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật. Ngày 04/7/2025, chị Lò Thị Thủy đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 24/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên mở phiên tòa xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/7/2025 và đã tống đạt theo quy định của pháp luật, anh Quàng Văn Thoại vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa theo luật định.

Tại phiên tòa ngày 11/8/2025, chị Lò Thị Thủy có đơn xin xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện và bản tự khai. Anh Quàng Văn Thoại vắng mặt lần 2 không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thấy rằng. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ án kịp thời, đúng pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên không có yêu cầu, kiến nghị gì. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các biện pháp xác minh sự vắng mặt của bị đơn nơi cư trú, tình trạng hôn nhân, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Quàng Văn Thoại, nhưng anh Quàng Văn Thoại vẫn không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh Quàng Văn Thoại đã tự từ bỏ các quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngày 04/7/2025 chị Lò Thị Thủy có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Lò Thị Thủy, được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Quàng Văn Thoại được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân:

Về kết hôn: Chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 25/6/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Quài Nưa, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên (nay là xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên). Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại là hôn nhân hợp pháp.

Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Chị Lò Thị Thủy khai nguyên nhân mâu thuẫn gia đình do anh Quàng Văn Thoại hay đi đánh bạc, nợ nần nhiều dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn và anh chị đã sống ly thân.

Về tình trạng hôn nhân: Lời khai của chị Lò Thị Thủy về tình trạng hôn nhân là có căn cứ phù hợp với các biên bản xác minh tình trạng hôn nhân, thực tế anh chị đã sống ly thân và trong thời gian sống ly thân không ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử nhận định chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại không còn tình cảm vợ chồng; không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị Thủy.

Về con chung: Tại các Biên bản xác minh ngày 01/7/2025 đối với đương sự thể hiện, chị Lò Thị Thủy đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quàng Phương Uyên, sinh ngày 09/12/2011 và cháu Quàng Thanh Tùng, sinh ngày 27/12/2021. Xét thấy, yêu cầu nuôi con sau ly hôn của chị Lò Thị Thủy đã phù hợp với nguyện vọng và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Căn cứ theo quy định tại Điều 58, Điều 69, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Lò Thị Thủy là viên chức công tác tại Trung tâm y tế Tuần Giáo, thu nhập ổn định là 11.000.000đ (mười một triệu đồng)/tháng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung, nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Phát biểu của kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí: Chị Lò Thị Thủy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 9, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 69, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 9, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị Thủy đối với bị đơn anh Quàng Văn Thoại.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị Thủy được ly hôn anh Quàng Văn Thoại.

- Về con chung:

Giao cháu Quàng Phương Uyên, sinh ngày 09/12/2011 và cháu Quàng Thanh Tùng, sinh ngày 27/12/2021 cho chị Lò Thị Thủy trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Chị Lò Thị Thủy không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn chị Lò Thị Thủy có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; anh Quàng Văn Thoại có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị Lò Thị Thủy và anh Quàng Văn Thoại có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn; khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Về án phí: Chị Lò Thị Thủy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị Lò Thị Thủy đã nộp: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 1 ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm tại địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ