vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15-AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/7/2025
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Trường Huân

Ông Phan Phước Tân

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà My - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15. Tòa án nhân dân khu vực 15 mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 517/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Chiến, sinh năm 1978; cư trú: Tổ 3, ấp Sa Tô, xã Khánh Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang (nay là ấp Sa Tô, xã Khánh Bình, tỉnh An Giang). (có đơn xin vắng mặt)

CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/5/2021.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lương, sinh năm 1982; cư trú: Tổ 3, ấp Sa Tô, xã Khánh Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang (nay là ấp Sa Tô, xã Khánh Bình, tỉnh An Giang). CMND: xxxxxxxxx, cấp ngày 14/11/2002. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Chiến nộp đơn xin ly hôn với bà Lương với nội dung như sau:

Hôn nhân giữa ông, bà được hình thành là tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung thời gian đầu tương đối hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, bà Lương ghen tuông vô cớ khiến cho vợ chồng thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên ông bà tuy sống chung nhà nhưng ăn riêng ngủ riêng khoảng 01 năm nay và không còn sống chung khoảng 02 tháng nay. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin ly hôn với bà Lương.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Chí Kiệt, sinh ngày 05/11/2001 và Nguyễn Ngọc Yến, sinh ngày 23/03/2013. Hiện cháu Kiệt đã trưởng thành có công việc ổn định, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, cháu Yến đang sống cùng bà Lương. Sau khi ly hôn, ông tôn trọng nguyện vọng của con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bà Lương trình bày:

Về hôn nhân: Bà thống nhất với ông Chiến về thời gian tiến đến hôn nhân và mâu thuẫn giữa vợ chồng. Tuy nhiên, việc bà có ghen tuông là do bà thương chồng, chồng đi nhậu nhưng lần nào cũng đi cùng một người phụ nữ nên bà mới ghen. Đây chỉ là mâu thuẫn nhỏ giữa vợ chồng không trầm trọng đến mức phải ly hôn. Vợ chồng không còn sống chung khoảng 1 tháng nay, trước đó vợ chồng tuy sống chung nhà nhưng ông Chiến tự ăn riêng ngủ riêng khoảng một năm nay. Nay bà nhận thấy vẫn còn tình cảm với chồng nên không đồng ý ly hôn.

Về về con chung: Thống nhất với lời trình bày của ông Chiến. Hiện cháu Kiệt đã trưởng thành có công việc ổn định, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, cháu Yến đang sống cùng bà Lương. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dạy cháu Yến và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Cháu Nguyễn Ngọc Yến có biên bản ghi nhận ý kiến: Cháu không muốn cha mẹ ly hôn. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ, không yêu cầu gì về cha. Ngoài ra, cháu Yến cho biết cha mẹ hiện không còn sống chung khoảng 02 tháng nay do cha thường xuyên nhậu nhẹt nên cha mẹ xảy ra cự cãi, trước đó cha mẹ vẫn sống chung nhưng ăn riêng ngủ riêng gần một năm nay.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Tại phiên tòa, bị đơn không đồng ý ly hôn

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng…là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy hôn nhân giữa ông Chiến và bà Lương có mâu thuẫn vợ chồng và không thể hàn gắn được, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa Ông Chiến và bà Lương là do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang là hôn nhân hợp pháp; bị đơn hiện có địa chỉ cư trú tại xã Khánh Bình, tỉnh An Giang nên yêu cầu xin ly hôn của ông Chiến được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hôn nhân giữa hai người hình thành là tự tìm hiểu yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây phát sinh mâu thuẫn. Nay ông Chiến cho rằng ông và bà Lương chung sống không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, không tìm được tiếng nói chung nên yêu cầu được ly hôn.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ông Chiến, bà Lương mới phát sinh, ông Chiến nộp đơn xin ly hôn nhưng ông không cung cấp được tài liệu hoặc chứng cứ nào khác về tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng ngoài lời trình bày của mình. Trong khi đó, ông Chiến, bà Lương tuy trước đó có phát sinh mâu thuẫn nhưng hiện nay vẫn sống chung nhà và không có mâu thuẫn trầm trọng như ông Chiến trình bày, thể hiện qua kết quả xác minh tại ban ấp Sa Tô, xã Khánh Bình.

Do đó, không có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông Chiến, bà Lương là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Chiến đối với bà Lương.

Về con chung: Do Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Chiến nên không đặt ra xem xét việc nuôi dưỡng con chung theo ý kiến của ông Chiến và bà Lương.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông Chiến và bà Lương xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Chiến là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà Lương không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các ĐIều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016.

Xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Chiến về việc ly hôn với bà Nguyễn Thị Lương.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn Chiến phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016056 ngày 03/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (cũ) (Ông Chiến đã nộp đủ).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/7/2025) các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ