- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Đặng Thị T và anh Đặng Văn H"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14-02-2025 V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hoài Sơn
2. Bà Vương Thị Thu Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thu Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Đinh Phú Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T; sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện VY, tỉnh Yên Bái; có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện VY, tỉnh Yên Bái; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 8 năm 2024 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Đặng Thị T trình bày:
Chị và anh Đặng Văn H trước khi kết hôn có tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 30 tháng 7 năm 2008, tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn chị và anh H chung sống cùng gia đình bố mẹ anh H tại thôn A, xã L, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh H thường xuyên chơi bời cờ bạc, rượu chè dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chị T và anh H đã ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà án giải quyết cho chị T được ly hôn anh Đặng Văn H.
Về con chung: Chị T và anh H có 03 người con chung, Đặng Thị B, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2008 và Đặng Thị C, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2011 và Đặng Tuấn D, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015. Ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả ba người con chung và chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Đặng Văn H nhưng anh H không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.
Biên bản xác minh ngày 04 tháng 10 năm 2024 (bút lục số 40) trưởng thôn A , huyện VY, tỉnh Yên Bái, cho biết: Chị Đặng Thị T và anh Đặng Văn H đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện VY, tỉnh Yên Bái vào ngày 30-07-2008, sau khi kết hôn chị T và anh H sinh sống tại thôn A, xã L, huyện VY, tỉnh Yên Bái, gần đây anh H thường đi làm ăn xa, thi thoảng mới về. Mâu thuẫn cụ thể giữa chị T và anh H như thế nào trưởng thôn không rõ. Về con chung chị T và anh H có ba người con chung Đặng Thị B, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2008 và Đặng Thị C, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2011 và Đặng Tuấn D, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015. Về tài sản chung, nợ chung chị T và anh H có hay không tôi không rõ. Chị T xin ly hôn anh H đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Đặng Thị T được ly hôn anh Đặng Văn H; về con chung: Giao con chung Đặng Thị B, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2008 và Đặng Thị C, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2011 và Đặng Tuấn D, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015 cho chị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung; anh H có quyền thăm nom đối với con chung, không ai được ngăn cản; Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh Đặng Văn H là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh Đặng Văn H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T và anh Đặng Văn H trước khi kết hôn có tìm hiểu và tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 30 tháng 07 năm 2008, tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Việc kết hôn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị T và anh Đặng Văn H là hợp pháp.
[3] Về mâu thuẫn vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình chung sống chị T và anh H bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hiểu nhau. Anh H thường đi làm ăn xa ít có thời gian quan tâm, chăm sóc gia đình. Từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã báo gọi anh H nhiều lần nhưng anh H đều vắng mặt. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đến nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên thấy yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị T.
[4] Về con chung: Chị T và anh H có 03 người con chung Đặng Thị B, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2008 và Đặng Thị C, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2011 và Đặng Tuấn D, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015. Ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả ba người con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy: Cháu B, cháu C và cháu D hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng nên cần giao các cháu cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và cũng là phù hợp với nguyện vọng của cháu B, cháu C và cháu D muốn được ở cùng chị T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần giao con chung là B, cháu C và cháu D cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
[7] Về án phí: Chị Đặng Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T được ly hôn anh Đặng Văn H.
2. Về con chung: Giao ba người con chung Đặng Thị B, sinh ngày 11 tháng 3 năm 2008 và Đặng Thị C, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2011 và Đặng Tuấn D, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2015 cho chị Đặng Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu B, cháu C và cháu D đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi theo quy địnhcủaphápluật. Anh Đặng Văn H khôngphải cấpdưỡngnuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số AA/2023/0001085 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VY, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị Đặng Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đặng Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện VY; - Thi hành án dân sự huyện VY; - UBND xã L; - Các đương sự; - Lưu: HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hương |