vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly được ly hôn anh Nguyễn Văn Linh.

Về nuôi con: Chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2014 và Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 16/01/2018 (hiện nay cháu Đ đang ở cùng anh L và cháu Đ1 đang ở cùng chị H). Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H- Nguyễn Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly được ly hôn anh Nguyễn Văn Linh.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2025/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 4 năm 2025
V/v: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ,TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Khương Đặng Khánh Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Vị

Ông Lê Thanh Sơn

- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 151/2024/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn Th, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn L ngày 05/9/2013 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và không bị ai lừa dối, ép buộc kết hôn. Sau khi kết hôn chị về ở chung cùng gia đình anh L ngay. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm về cuộc sống, anh L ham chơi, không chịu khó làm ăn phát triển kinh tế gia đình, nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Mâu thuẫn kéo dài và anh L cũng có lần đánh chị, dẫn đến tình cảm vợ chồng không hạnh phúc. Tháng 9 năm 2022 chị về nhà mẹ đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Khi vợ chồng sống ly thân hai bên gia đình có giàn xếp hòa giải nhưng vợ chồng không thể hòa thuận để tiếp tục chung sống cùng nhau. Nay chị xác định đời sống chung mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2014 và Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 16/01/2018. Hiện nay cháu Đ đang ở cùng anh L và mẹ đẻ anh L tại xã Q, còn cháu Đ1 đang ở cùng chị tại xã L. Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con và tự nguyện không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Chị H không đề nghị Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh L không đến Tòa án làm việc; không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ; phiên hòa giải. Anh L không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị giải quyết ly hôn của chị H. Tại phiên tòa hôm nay anh L vắng mặt mặc dù đã được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Kết quả xác minh tại địa phương và gia đình xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị H L là trầm trọng, vợ chồng đã ly thân. Hiện anh L đang sinh sống tại địa phương và có biết việc chị H xin ly hôn nhưng không đến Tòa án làm việc.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Trương Thị L1 (mẹ đẻ anh L) trình bày: Gia đình bà có tổ chức lễ cưới cho chị H và anh L vào năm 2013. Quá trình chung sống vợ chồng anh L và chị H có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn một phần do anh L ham chơi, không chịu khó làm ăn và hiện vợ chồng đã sống ly thân. Anh L và chị H có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2014 và Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 16/01/2018. Hiện nay cháu Đ1 ở cùng chị H và cháu Đ ở cùng anh L và bà. Bà xác nhận các lần Tòa án gửi các thông báo, giấy triệu tập cho anh L, bà đều nhận thay và anh L biết việc chị H xin ly hôn nhưng anh L không đến Tòa án làm việc đồng thời anh L có trao đổi với bà đồng ý để chị H được nuôi cả hai con. Nay chị H đề nghị giải quyết ly hôn và nuôi con đối với anh L thì bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật như vắng mặt không có lý do từ khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Về nuôi con chung: Đề nghị giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con là cháu Đ, cháu Đ1. Hiện nay cháu Đ ở cùng anh L và cháu Đ1 ở cùng chị H. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: không đề nghị nên không xem xét giải quyết.Về án phí: Chị H phải chịu nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh L không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xét thấy bị đơn là anh Nguyễn Văn L vắng mặt tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập là vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa anh L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 9 năm 2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện S trên cơ sở tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 9 năm 2022 mâu thuẫn trầm trọng nên chị H về nhà mẹ đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh L ham chơi, không tập trung làm ăn phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau và anh L có lần đánh chị H nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc. Khi vợ chồng sống ly thân hai bên đều không có biện pháp để cải thiện tình cảm, khắc phục mâu thuẫn. Xác minh UBND xã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và vợ chồng đã sống ly thân. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh L mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được, vợ chồng sống ly thân trong thời gian dài, việc chị H xin ly hôn anh L là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Anh L vắng mặt không hợp tác đến Tòa án làm việc thể hiện anh L cố tình gây khó khăn cho chị H và không có mong muốn để vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

Về nuôi con chung: Chị H và anh L có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2014 và Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 16/01/2018. Hiện nay cháu Đ1 ở cùng chị H và cháu Đ ở cùng anh L. Ly hôn chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và chị H không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Qúa trình giải quyết vụ án anh L có quan điểm đồng ý để chị H được nuôi dưỡng cả hai con, Tòa án lấy lời khai cả hai con cháu Đ và cháu Đ1 đều có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn các cháu xin được ở với mẹ để có điều kiện học tập tốt. Hiện nay chị H xác nhận đang làm nhân viên bán hàng tại cửa hàng thuốc tân dược tại xã L với thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng đủ điều kiện kinh tế nuôi các con học tập và sinh hoạt hàng ngày nên không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Do vậy để đảm bảo điều kiện tốt về học tập, sinh hoạt và không ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con là cháu Đ và cháu Đ1 và anh L không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Chị H không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấn nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly được ly hôn anh Nguyễn Văn Linh.

2. Về nuôi con: Chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2014 và Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 16/01/2018 (hiện nay cháu Đ đang ở cùng anh L và cháu Đ1 đang ở cùng chị H). Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0001095 ngày 09/12/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ