vanban.org

Bản án 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Nguyên T.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Nguyên T được ly hôn chị Nguyễn Thị K. Về con chung: Giao con chung tên Vũ Nguyễn Trường H, sinh ngày 24/01/2009 cho chị Nguyễn Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị K không yêu cầu anh Vũ Nguyên T cấp dưỡng cho con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Nguyên T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘ ĐỨC
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-4-2025
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Dung

2. Ông Đặng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Vũ Nguyên T

Địa chỉ: Thôn S, xã Đạo L, huyện Lý N, tỉnh Hà N

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị K

Địa chỉ: Thôn T, xã Đức L, huyện Mộ Đ, tỉnh Quảng N.

Anh T, chị K vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2025, bản tự khaingày 21/02/2025,nguyên đơn anh Vũ Nguyễn T trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị K tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 21/01/2009 tại Uỷ ban nhân dân xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc; vài năm trở lại đây thì vợ chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân sống không hạnh phúc là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, thường xuyên cải vã. Hiện nay vợ chồng đã ly thân nhau phần ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến nhau; nay tình cảm vợ chồng không còn anh yêu cầu tòa án nhân dân huyện Mộ Đức cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị K.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Vũ Nguyễn Trường H, sinh ngày 24/01/2009. Khi ly hôn anh giao con cho chị K nuôi dưỡng, anh không cấp dương tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Anh và chị K tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản trình bày ngày 03/4/2025 bị đơn chị Nguyễn Thị K trình bày:

Chị và anh Vũ Nguyên T tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 21/01/2009 tại Uỷ ban nhân dân xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc; vài năm trở lại đây thì vợ chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân sống không hạnh phúc là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, thường xuyên cải vã. Hiện nay vợ chồng đã ly thân nhau phần ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến nhau; nay tình cảm vợ chồng không còn anh T yêu cầu tòa án nhân dân huyện Mộ Đức giải quyết ly hôn chị đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Vũ Nguyễn Trường H, sinh ngày 24/01/2009. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh Trường cấp dương tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Chị và anh T tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành của nguyên đơn, bị đơn đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Vũ Nguyễn T được ly hôn chị Nguyễn Thị K.

+ Giao con chung Vũ Nguyễn Trường H, sinh ngày 24/01/2009 cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

+ Tài sản chung: Anh T, chị K tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết

+ Nợ chung: Anh T, chị K trình bày không có.

+ Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tòa án thụ lý đơn khởi kiện đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền, giải quyết vụ án trong thời hạn luật định; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung

Về quan hệ hôn nhân

Anh Vũ Nguyên T và chị Nguyễn Thị K đăng ký kết hôn vào ngày 21/01/2009 tại Uỷ ban nhân dân xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, quan hệ hôn nhân anh T và chị K là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa anh T và chị K có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Anh T yêu cầu ly hôn, chị K đồng ý, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh T và chị K là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh T yêu cầu ly hôn, chị K đồng ý là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung

Anh T và chị K có 01 con chung tên Vũ Nguyễn Trường H, sinh ngày 24/01/2009. Khi ly hôn anh T giao con cho chị K nuôi dưỡng con chung, chị K đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy anh T đồng ý giao con cho chị K nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị K, giao con chung tên Vũ Nguyễn Trường H, sinh ngày 24/01/2019 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng cho con

Chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung

Anh T, chị K trình bày không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung

Anh T, chị K trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí

Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 228, 235, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Nguyên T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Nguyên T được ly hôn chị Nguyễn Thị K.

2. Về con chung: Giao con chung tên Vũ Nguyễn Trường H, sinh ngày 24/01/2009 cho chị Nguyễn Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị K không yêu cầu anh Vũ Nguyên T cấp dưỡng cho con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Anh T, chị K trình bày không yêu cầu giải quyết nên Hộiđồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Anh T, chị K trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Anh Vũ Nguyên T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000223 ngày 12 tháng 2 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ