- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh - chung"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 - Điều 27-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày 28/3/2025 V/v “Tranh chấp Ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Hoàng
Ông Lê Văn Đô
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Giáp Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 287/2024/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/3/2025, giữa các đương sự;
-Nguyên đơn: Chị Tạ Lan A, sinh năm 2003 ( có đơn xin vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: TDP Đức Thịnh, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở: thôn Đông, xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992 ( vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Tạ Lan A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn C vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về chung sống với nhau ngay và chung sống với gia đình nhà chồng. Trong quá trình chung sống thì cuộc sống vợ chồng bình thường, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh C chơi bời cờ bạc, đi khoảng 2 đến 3 ngày mới về nhà, không có trách nhiệm với gia đình. Khi mâu thuẫn thì đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không được. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 7 năm 2023 và sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân thì anh C có gọi về đoàn tụ, nhưng chị không về. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn anh C.
- Về con chung: Chị xác định có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/01/2021 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/6/2023. Hiện nay cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ đang ở với anh C, cháu Nguyễn Khánh L đang ở với chị. Khi ly hôn thì chị xin được nuôi cháu L, còn anh C nuôi cháu Đ. Vấn đề cấp dưỡng chị không yêu cầu giải quyết.
Hiện nay chị đang làm công nhân, thu nhập trung bình 8.000.000 đồng/ tháng, thời gian làm theo ca, chị đảm bảo có điều kiện về thời gian chăm sóc và kinh tế để nuôi con.
- Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị xác định không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa chị Lan A vắng mặt và có đơn xin vắng mặt
*Bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân thì anh đồng ý ly hôn; về con chung thì anh đồng ý để chị Lan Anh N cháu Nguyễn Khánh L, anh nuôi cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ; Về tài sản, công nợ thì anh xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà anh C vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; điểm b khoản 2 -Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273-Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 5 Điều 27-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Lan A được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/6/2023 cho chị Tạ Lan A tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/01/2021 cho anh Nguyễn Văn C tiếp tục nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng chị Tạ Lan A không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
3. Về công nợ, tài sản chung: Chị Tạ Lan A không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Tạ Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004303 ngày 08/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Tạ Lan A đã nộp đủ. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Ngày 08 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Tạ Lan A xin ly hôn anh Nguyễn Văn C có nơi cư trú tại địa bàn huyện H là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về tố tụng: Tại phiên tòa chị Lan A có đơn xin vắng mặt và anh C vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 - của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị Lan A và anh C là có căn cứ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Lan A xin ly hôn anh Nguyễn Văn C xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H năm 2023, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng là hôn nhân hợp pháp (Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình). Qua xác minh tại địa phương, gia đình và căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử, xét thấy chị Lan A và anh C sau khi về chung sống thì thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, nguyên nhân do anh C không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng dạn nứt. Khi xẩy ra mâu thuẫn đã được gia đình hai bên và vợ chồng tự hòa giải nhưng không thành. Hiện nay chị Lan A cùng con đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống ở Thái Bình, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay, hai bên không còn quan tâm đến với nhau. Bản thân anh C cũng đồng ý ly hôn, nhưng các buổi hòa giải thì anh C không lên Tòa án làm việc. Như vậy, xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung của chị Lan A và anh C không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lan A là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lan A và anh C có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/01/2021 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/6/2023. Hiện nay cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ đang ở với anh C, cháu Nguyễn Khánh L đang ở với chị. Khi ly hôn, thì chị Lan A có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khánh L, anh C tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ. Xét về điều kiện thời gian chăm sóc, kinh tế, hiện nay mỗi người đang nuôi một con chung. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung thì cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/6/2023 cho chị Tạ Lan A tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/01/2021 cho anh Nguyễn Văn C tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Lan A và anh C xác định không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004303 ngày 08/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Lan A đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2-Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điểm a khoản 5 - Điều 27-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Lan A được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/6/2023 cho chị Tạ Lan A tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Ngọc Linh Đ, sinh ngày 15/01/2021 cho anh Nguyễn Văn C tiếp tục nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng chị Tạ Lan A không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
3. Về công nợ, tài sản chung: Chị Tạ Lan A và anh C không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Tạ Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004303 ngày 08/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Tạ Lan A đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
6.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - CCTHADS huyện Hiệp Hòa; - UBND thị trấn Thắng; - Các đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sự |