- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 13/2025/DS-ST Ngày 14-5-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cư. Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hải.
2. Ông Hồ Chí Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Vào các ngày 22/4/2025 và ngày 14/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-DS ngày 04tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Địa chỉ: Số B, N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Đức Thạch D là anh Lê Thanh T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khóm M, Phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Theo quyết định ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Đại diện theo ủy quyền của anh Lê Thanh T là Lê Minh T, sinh năm 1998, chức vụ: Chuyên viên khách hàng – Chi nhánh Đ – Phòng G. Địa chỉ: Khóm B,
- 1 -
thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Theo giấy ủy quyền số 89/GUQ-PGDTH ngày 24/7/2024) (Có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Võ Thị Ngọc N, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các văn bản trình bày của anh Trung đại D1 cho nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án: Vào ngày 26/12/2022, chị N có ký với Ngân hàng TMCP S – Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (Bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của chị N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, chị N đã rút dư nợ gốc 30.000.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng chị N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do chị N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng), ngày 15/12/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Từ những nhận định trên, Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Võ Thị Ngọc N phải thanh toán khoản nợ tính đến ngày xét xử 14/5/2025 như sau: Dư nợ gốc 32.438.348 đồng, lãi quá hạn 23.148.792 đồng. Tổng cộng gốc lãi 55.587.140 đồng. Chị Võ Thị Ngọc N còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tính từ ngày 15/5/2025 đến ngày trả hết nợ.
- Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt (Theo thủ tục Niêm yết) hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn chị Võ Thị Ngọc N nhưng chị N không có ý kiến phản hồi trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của chị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- 2 -
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Hội đồng xét xử xét thấy qua yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S Tòa án thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn đã cung cấp đúng địa chỉ của bị đơn và phù hợp với kết quả xác minh của Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, như sau: “đương sự Võ Thị Ngọc N hiện vắng mặt tại nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về, không rõ địa chỉ nơi cư trú mới”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử các định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm bị đơn Võ Thị Ngọc N đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ theo quy định tại các Điều 177 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự mà vẫn cố tình vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Còn anh T là người đại diện cho nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh T là đúng theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Võ Thị Ngọc N phải thanh toán tính đến ngày 14/5/2025 dư nợ gốc 32.438.348 đồng, lãi quá hạn 23.148.792 đồng. Tổng cộng gốc lãi 55.587.140 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) ngày 26/12/2022 đã ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S với chị Võ Thị Ngọc N cho thấy việc giao kết hợp đồng giữa các bên là có thật. Nội dung các bên thỏa thuận xuất phát từ sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội là phù hợp theo quy định tại các Điều 3, Điều 463 Bộ luật dân sự 2015.
Vào ngày 26/12/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần S – Phòng G có cấp cho chị Võ Thị Ngọc N thẻ tín dụng hạn mức 30.000.000 đồng; lãi suất áp dụng 32,2%/năm, phí theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Chị N đã sử dụng thẻ với số tiền 30.000.000 đồng sau đó chị N không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 15/12/2023 Ngân hàng thương mại cổ phần S –
- 3 -
Phòng G đã chuyển khoản nợ thẻ sang nợ quá hạn. Căn cứ bản tính chi tiết quá trình sử dụng thẻ của chị N tính đến ngày 14/5/2025 chị N còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng cộng là 55.587.140 đồng trong đó: Dư nợ gốc 32.438.348 đồng, lãi quá hạn 23.148.792 đồng. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị N nhưng chị N không có ý kiến phản hồi trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và không đến Tòa án để giải quyết nên Tòa án căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chị N đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
Xét theo quy định pháp luật:
Áp dụng Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định về chuyển tiếp:“1. …
2. Hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận được ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng N1 và khách hàng được tiếp tục thực hiện theo hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận đã ký kết cho đến hết thời hạn của hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận…”.
Do hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng) giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S với chị Võ Thị Ngọc N đã ký kết (ngày 26/12/2022) trước ngày Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 có hiệu lực pháp luật (ngày 01/7/2024) nên áp dụng khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định: “2. Trong trường hợp khách hàng không trả nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng…”
Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định: “2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định:
“Điều 98. Hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại
…
d) Phát hành thẻ tín dụng; …”
Xét, cam kết của giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của chị N với Ngân hàng thương mại cổ phần S “… Bằng việc ký vào giấy đề nghị này tôi xác nhận rằng,
- 4 -
tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dựng thẻ tín dụng cá nhân của S1. Điều khoản và Điều kiện cùng với giấy đề nghị này tạo nên một hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng S1 có tính ràng buộc về mặt pháp lý giữ tôi và S1.Tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng mà tôi đã được cấp…””
Xét Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S quy định: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ tại TBGD hiện tại cho đến kỳ TBGD tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm hợp đồng.…
Khi vi phạm xảy ra, Chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng S1 có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau:
- Tạm ngừng hoặc chấm dứt sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ dư nợ;
- Áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của S1;
…”
Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S buộc bị đơn chị Võ Thị Ngọc N phải thanh toán khoản nợ tính đến ngày 14/5/2025 là 55.587.140 đồng trong đó: Dư nợ gốc 32.438.348đồng, lãi quá hạn 23.148.792đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị đơn chị Võ Thị Ngọc N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, 147, 177, 179, 180, 227, 228, 235, 238, 271, 273 và 278 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 280, 351, 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 và 98 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
- 5 -
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Buộc chị Võ Thị Ngọc N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ vay tổng cộng 55.587.140 đồng (Năm mươi năm triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn một trăm bốn mươi đồng) trong đó: Dư nợ gốc 32.438.348 đồng, lãi quá hạn 23.148.792 đồng.
Kể từ ngày 15/5/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đề ngày 26/12/2022 đã ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S – Phòng G với chị Võ Thị Ngọc N và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S) nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc chị Võ Thị Ngọc N phải nộp 2.779.000 đồng (Hai triệu bảy trăm bảy mươi chín nghìn đồng) (lấy tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 1.056.500 đồng (Một triệu không trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0010290 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng (Do anh Lê Minh T nộp thay).
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - 6 - - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Tân Hồng; - Chi cục THADS huyện Tân Hồng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. - 7 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Cư |