vanban.org

Bản án 13/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố Vũ Đình V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt Vũ Đình V 24 (hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND phường Quảng T5, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án tre… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình V phạm tội Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Vũ Đình V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƢỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số:13/2024/HSST
Ngày: 24/01/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƢỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Thị Thu Hương

2. Ông Lương Văn Hùng

Thƣ ký phiên toà: Bà Vũ Hà Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thƣờng Tín tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Hằng -Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 163/2023/TLST-HS ngày 01/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Đình V, sinh năm 1986, tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố Khang P, phường Quảng T, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ V hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đình C và bà Nguyễn Thị L; vợ là Phạm Thị H, có bốn con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không (Theo danh chỉ bản số 420 do công an huyện Thường Tín lập ngày 09/11/2023); Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1/ Ông Hoàng Công T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Trú tại: số 382 Tây S, phường Thịnh Q, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

1/ Ông Lương Minh T2, sinh năm 1978 (có đơn xét xử vắng mặt)

Trú tại: P518 tập thể Quỳnh M, phường Quỳnh M, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

3/Anh Lê V T3, sinh năm 1990 (có đơn xét xử vắng mặt).

Trú tại: thôn Hòa B, xã Bình Đ, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

4/ Anh Nguyễn Sỹ N, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Trú tại: chung cư Roma Plaza, phường Đại M1, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Nguyên đơn dân sự: Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng giao thông Phương T4.

Trụ sở: D3- Nơ 15 khu đô thị mới Định C, phường Định C, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm V K, chức vụ: Tổng giám đốc Công ty (vắng mặt).

Bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1970 (có mặt)

Trú tại: khu phố Vạn L, phường Quảng T5, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Chị Lương Hà Mỹ A, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Trú tại: chung cư Roma Plaza, phường Đại M1, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

2/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973 (có đơn xét xử vắng mặt)

Trú tại: số 145 Đinh Công T6, phường Ba Đ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

3/Ông Nguyễn Ngọc L2, sinh năm 1970 (có đơn xét xử vắng mặt)

Trú tại: phố Nguyên Hồng, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

4/ Ông Phan Đình Thành, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Trú tại: khu phố 7, phường Hương C, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Đ.

5/Ông Hà Thanh H, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Trú tại: thôn Hòa D, xã Cát T, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 04/11/2022, anh Nguyễn Ngọc L2 điều khiển xe ô tô, BKS: 36A-458.43 đi trên đường cao tốc Pháp Vân- Cầu Giẽ theo hướng Hà Nam-Hà Nội. Khi đi đến Km 204+600, đường cao tốc Pháp Vân- Cầu Giẽ thuộc địa phận xã Minh Cường, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội anh L2 điều khiển xe ô tô BKS: 36A-458.43 chuyển làn từ làn đường thứ hai vào làn đường trong cùng (gần dải phân cách phân chia hai chiều đường). Lúc này có anh Phan Đình Thành đang điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-078.99 kéo theo rơ mooc BKS: 033.65 đi ở làn đường thứ nhất giáp dải phân cách giữa hai chiều đường. Anh Thành phát hiện phía trước khoảng 20m làn bên phải có xe ô tô BKS: 36A-458.43 đi ở làn thứ hai bất ngờ xi nhan chuyển hướng đi sang làn đường bên trái trước đầu xe ô tô do anh Thành điều khiển nên anh Thành đập phanh để tránh, nhưng do khoảng cách quá gần không tránh kịp nên phần đầu xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-078.99 đã đâm vào sườn xe bên trái xe ô tô BKS: 36A-458.43 làm xe này đâm vào tôn chắn sóng của dải phân cách. Sau đó anh Thành đánh lái sang bên phải đi thêm khoảng 30m rồi mới dừng lại được. Sau tai nạn xảy ra, anh L2, anh Thành cho xe dừng lại bên đường để giải quyết. Anh Thành đã bật đèn cảnh báo của xe và gọi điện cho cảnh sát giao thông. Lúc này lưu thông trên đường có xe ô tô BKS: 30F-209.37 do anh Nguyễn Sỹ N điều khiển đi ở làn đường thứ ba (gần làn dừng khẩn cấp); xe ô tô BKS: 17A-251.93 do anh Lê V T3 điều khiển đi cùng làn, phía sau xe anh Nhật; xe ô tô BKS: 36A-568.89 do anh Lương Minh T2 điều khiển (chở chị Nguyễn Thị N) đi ở làn đường thứ hai, phía sau xe này có xe ô tô BKS: 30G-823.73 do anh Hoàng Công T1 điều khiển. Lúc này khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi các xe đang di chuyển chậm để đi qua vụ tai nạn giao thông thì từ phía sau, ở làn đường thứ hai có xe ô tô tải BKS: 36C-194.35 do Vũ Đình V điều khiển chở hàng từ Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đi chợ đầu mối L2 Biên, thành phố Hà Nội đi từ hướng Hà Nam- Hà Nội đi đến với vận tốc khoảng 80km/h. Do trời tối, đèn xe của V mờ nên không phát hiện được phía trước các phương tiện đang di chuyển chậm do có vụ tai nạn giao thông. Khi xe ô tô do V điều khiển cách các phương tiện phía trước khoảng 30m thì V mới phát hiện được. V đạp phanh cho xe dừng lại nhưng không dừng được nên xe ô tô do V điều khiển đã đâm trượt qua bên trái xe ô tô BKS: 30G-823.73 do anh Hoàng Công T1 điều khiển và xe ô tô BKS: 36A-568.89 do anh Lương Minh T2 điều khiển. Sau đó xe ô tô do V điều khiển mất lái lao sang bên phải đường theo chiều hướng Hà Nam- Hà Nội và tiếp tục đâm vào đuôi xe ô tô BKS: 17A-251.93 do anh Lê V T3 điều khiển, xe ô tô do anh T3 điều khiển Vg vào xe ô tô BKS: 30F-209.37 do anh Nguyễn Sỹ N điều khiển. Sau đó xe ô tô do V điều khiển lao vào tôn chắn sóng bên phải đường cao tốc rồi dừng lại.

Hậu quả:

+ Xe ô tô BKS: 36A- 458.43, xe ô tô BKS: 77C-078.99 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 77R-033.65, xe ô tô BKS: 36C-194.35, xe ô tô BKS: 30F-209.37, xe ô tô BKS: 17A-251.93, xe ô tô BKS: 36A-568.89, xe ô tô BKS: 30G-823.73 bị hư hỏng.

+02 đoạn tôn chắn sóng dài 3,2 m và 12,64 m trên đường cao tốc Pháp Vân-Cầu Giẽ thuộc quyền quản lý, bảo trì của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng giao thông Phương T4 bị hư hỏng.

Tang vật thu giữ: Xe ô tô BKS: 36A- 458.43, xe ô tô BKS: 77C-078.99 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS: 77R-033.65, xe ô tô BKS: 36C-194.35, xe ô tô BKS: 30F-209.37, xe ô tô BKS: 17A-251.93, xe ô tô BKS: 36A-568.89, xe ô tô BKS: 30G-823.73 và giấy phép lái xe hạng C của Vũ Đình V.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trƣờng thể hiện:

-Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại Km 204+600 cao tốc Pháp Vân- Cầu Giẽ-Cao Bồ- Mai Sơn thuộc địa phận xã Minh Cường, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội (hướng Hà Nam- Hà Nội). Đoạn đường phẳng, mặt đường trải nhựa, không hạn chế tầm nhìn, bên phải theo chiều đi là lối ra nút giao Vạn Điểm, tổ chức giao thông thành hai chiều đường riêng biệt, ở giữa dải phân cách cứng, hệ thống đèn cao áp chiếu sáng chiều đường nơi xảy ra vụ tai nạn. Tai nạn xảy ra trên 03 làn đường xe chạy, một lề an toàn, một làn dừng khẩn cấp và đoạn mở xuống nút giao được chia bởi vạch sơn nét đứt và vạch sơn nét liền, kích thước các làn xe chạy bằng nhau là 3,75m, làn khẩn cấp 03m và lề đường an toàn bằng 0,9m.

- Xác định điểm mốc và mép chuẩn: điểm mốc được chọn là mép phải hướng Hà Nội của mốc lộ giới H6/204 được sơn trên tôn hộ can (chiều Hà Nội- Hà Nam), mép đường nhựa bên trái theo chiều (Hà Nam- Hà Nội) làm mép đường chuẩn.

-Hiện trường cụ thể: số 01 là cà vết trượt cong vênh tôn hộ can có kích thước (6,30 x 0,90)m; số 02 là mảnh vỡ của cửa trước xe ô tô BKS: 36A-458.43 kích thước (1,6 x 0,60)m; số 03 là vết trượt màu đen trên mặt đường, cuối vết trượt bánh sau bên phải xe ô tô đầu kéo kích thước (29,40 x 0,60)m; số 04 là vết trượt màu đen kích thước là (16,00 x 0,15)m; số 05 là vị trí xe ô tô BKS: 30G-823.73; số 06 là vị trí xe ô tô BKS: 36A-568.89; số 07 là vết trượt màu đen có kích thước (19,00 x 0,58)m kết thúc bánh sau bên phải của xe ô tô BKS: 77C-078.99, rơ mooc 77R-033.65; số 8 là vị trí xe ô tô tải BKS: 36C-194.35; số 09 là vết cong vênh trên hộ can kích thước (7,00 x 0,9)m; số 10 là vùng mảnh vỡ kích thước (5,0 x 5,0)m; số 11 là vị trí xe ô tô BKS: 17A-215.93; số 12 là vị trí xe ô tô BKS: 30F-209.37; số 13 là vị trí xe ô tô BKS: 77C-078.99 sơ mi rơ mooc 77R-033.65; số 14 là vị trí xe ô tô BKS: 36A-458.43.

+(1)Vết cà trượt cong vênh trên tôn hộ can có chiều hướng Hà Nam-Hà Nội, vết có kích thước bằng (6,3 x 0,9)m, đo từ tâm đầu xuống mặt đường là 0,50m, đo từ cuối vết xuống mặt đường là 0,52m.

+(2) Mảnh vỡ cản trước của xe ô tô BKS: 30A-458.43 nằm dưới dải tôn hộ can có kích thước là (1m60 x 0,60)m, đo từ đầu vết 1 đến đầu vết 2 có kích thước bằng 2m30.

+(3) Vết trượt màu đen trên mặt đường: đầu vết 03 đo vuông góc với mép đường chuẩn là 3,80m, vết 03 có chiều Hà Nam- Hà Nội có dạng hơi vòng cung cuối vết 3 kết thúc tại tâm trục sau của xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-078.99 kéo theo sơ mi rơ mooc 77R-033.65, đo từ tâm đầu trục sau bên phải vuông góc với mép đường chuẩn là 5,50m.

+(4) Vết trượt màu đen nằm sát mép đường chuẩn đo từ đầu 5 đến đầu 4 song song vuông góc với mép đường chuẩn là 4,90m cuối vết 4 nằm trên làn xe thứ nhất, tâm điểm cuối 4 cách mép đường chuẩn là 1,30m, đo từ đầu 4 đến trục trước bên phải 5 vuông góc mép đường chuẩn là 3,85m.

+(5) Vị trí xe ô tô BKS: 30G-823.73 đo song song vuông góc với mép đường chuẩn từ tâm đầu trước 5 đến tâm đầu trục sau 5 là 4,60m, tâm trục sau đo vuông góc với mép đường chuẩn là 3,80m.

+(6) Vị trí xe ô tô BKS: 36A-568.89: tâm trục trước 6 đến mép đường chuẩn là 3,80m, đo song song vuông góc với trục trước 6 đến 7 là 0,40m.

+(7) Vết trượt màu đen kích thước là (19 x 0,58)m cuối 7 là tâm trục bánh sau bên phải của đầu kéo 77C-078.99, rơ mooc 77R-033.65, cuối 7 cách mép đường chuẩn là 3,60m, đầu 7 đến tâm trục bánh sau bên trái 8 là 4,90m.

+(8) Vị trí xe ô tải BKS: 36C-194.35 nằm trên làn đường khẩn cấp theo chiều hướng Hà Nam- Hà Nội đầu 8 nằm trên giải tôn hộ can 9, đo từ tâm trục sau bên trái 8 vuông góc với mép đường chuẩn là 14,40m.

+(9) Vết cong vênh trên hộ can kích thước (7 x 0,9)m.

+(10) Vùng mảnh vỡ nằm rải rác trên làn đường dừng xe khẩn cấp và một phần ngoài giải tôn hộ can, tâm của 10 nằm tại vị trí trục trước bên trái của 8.

+(11) Vị trí xe ô tô BKS: 17A-215.934 nằm giữa hai làn số 2 và số 3, đầu 11 quay về hướng mép đường chuẩn, đo song song vuông góc từ trục sau bên trái 8 với trục trước bên phải 11 là 2,30m, từ tâm trục trước bên phải vuông góc với mép đường chuẩn là 6,50m, đo từ tâm trục sau bên trái 11 vuông góc mép đường chuẩn là 9,00m, đo song song vuông góc từ tâm trục sau bên phải 11 đến tâm trục sau bên trái 13 là 8,40m.

+(12) Vị trí xe ô tô BKS: 30F-209.37 nằm tại làn số 3 theo làn xe chạy, đo từ tâm trước 13 lên vuông góc mép đường chuẩn là 8,80m.

+(13) Vị trí xe ô tô BKS: 77C-078.99 sơ mi rơ mooc 77R-033.65 đo từ tâm trục sau bên trái 13 vào mép đường chuẩn là 3,60m, đo từ tâm trục trước 13 vào mép đường chuẩn là 3,10m. Tâm trục trước sơmi rơ mooc vuông góc với mép đường chuẩn vào mốc H6/204 là 1,20m.

+(14) Vị trí xe ô tô BKS: 36A-458.43 nằm giữa làn xe chạy số 1 sát giải phân cách giữa và làn xe chạy giữa, đầu 14 hướng giải phân cách giữa, đo song song vuông góc mép đường chuẩn từ tâm trục trước bên trái của 14 với tâm trục trước bên trái 13 là 2,10m đo vuông góc từ tâm trục trước bên trái vào mép đường chuẩn là 4m.

Tại bản kết luận định giá số 12/KL-HĐĐG ngày 16/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thường Tín, kết luận:

+Phần thiệt hại tài sản của xe ô tô BKS: 36A-458.43, nhãn hiệu PEUGEOT, đăng ký lần đầu đưa vào sử dụng 06/11/2019 có giá trị 97.650.000 đồng.

+Phần thiệt hại tài sản của xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-078.99 nhãn hiệu CNHTC đăng ký lần đầu dưa vào sử dụng 03/02/2015 có giá trị 6.050.000 đồng.

+Phần thiệt hại tài sản là tôn chắn sóng trên đường cao tốc Pháp Vân- Cầu Giẽ (3,2m) có giá trị 7.283.000 đồng.

Tổng giá trị thiệt hại tài sản là 110.983.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá số 13a/KL-HĐĐG ngày 16/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thường Tín, kết luận: Giá trị thiệt hại tài sản là tôn chắn sóng trên đường cao tốc Pháp Vân- Cầu Giẽ (12,64m tôn chắn sóng bị hư hỏng) là 24.475.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá số 13/KL-HĐĐG ngày 16/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thường Tín, kết luận:

+Phần thiệt hại tài sản của xe ô tô BKS: 17A-251.93, nhãn hiệu KIA, đăng ký lần đầu đưa vào sử dụng 20/9/2021 có giá trị 166.529.000 đồng.

+Phần thiệt hại tài sản của xe ô tô BKS: 30F-209.37, nhãn hiệu Mazda, đăng ký lần đầu đưa vào sử dụng 18/6/2018, có giá trị 93.739.000 đồng.

+Phần thiệt hại tài sản của xe ô tô BKS: 36A-568.89, nhãn hiệu Toyota, đăng ký lần đầu đưa vào sử dụng 08/11/2020, có giá trị 72.936.000 đồng.

+Phần thiệt hại tài sản của xe ô tô BKS: 30G-823.73, nhãn hiệu Toyota, đăng ký lần đầu đưa vào sử dụng 08/01/2021, có giá trị 67.985.000 đồng.

+Phần thiệt hại tài sản của xe ô tô BKS: 36C-823.73, nhãn hiệu THACO, đăng ký lần đầu đưa vào sử dụng 28/10/2016, có giá trị 3.800.000 đồng.

Tổng giá trị thiệt hại của tài sản là 404.989.000 đồng.

Về dân sự: bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận xong về bồi thường dân sự, không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số 160/CT-VKSTT ngày 30/11/2023,Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố Vũ Đình V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

*Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Về bồi thường dân sự các bên đã giải quyết xong, việc phân tách nghĩa vụ bồi thường giữa bị cáo và anh Nguyễn Duy H thì bị cáo không có yêu cầu gì.

*Anh H: anh và bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại và không có ý kiến gì về việc phân tách nghĩa vụ bồi thường giữa anh và bị cáo V.

*Đại diện VKSND huyện Thường Tín giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm d khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị:

- Xử phạt Vũ Đình V từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

-Về hình phạt bổ sung: cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận bồi thường dân sự và không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Khoảng 21 giờ ngày 04/11/2022, Vũ Đình V có giấy phép lái xe hợp lệ (hạng C) điều khiển xe ô tô tải BKS: 36C-194.35 chở hàng từ thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đi chợ đầu mối L2 Biên, Thành phố Hà Nội đi trên làn đường thứ hai tính từ dải phân cách chia chiều đường trên đường cao tốc Pháp Vân- Cầu Giẽ. Khi V đi đến Km 204+600 đường cao tốc Pháp Vân- Cầu Giẽ địa phận xã Minh Cường, huyện Thường Tín, Hà Nội, do thiếu chú ý quan sát V không phát hiện phía trước khoảng 30m có hiện trường xảy ra tai nạn giao thông, các xe đang di chuyển chậm nên xe ô tô do V điều khiển đã đâm trượt qua bên trái xe ô tô BKS: 30G-823.73 do anh Hoàng Công T1 điều khiển và xe ô tô BKS: 36A-568.89 do anh Lương Minh T2 điều khiển. Sau đó, xe của V mất lái lao sang bên phải đường theo chiều hướng Hà Nam- Hà Nội và tiếp tục đâm vào đuôi xe ô tô BKS: 17A-251.93 do anh Lê V T3 điều khiển khiến xe anh T3 Vg vào xe ô tô BKS: 30F-209.37 do anh Nguyễn Sỹ N điều khiển. Sau đó, xe ô tô do V điều khiển lao vào hộ can bên phải đường cao tốc rồi dừng lại. Hậu quả 04 xe ô tô gồm xe ô tô BKS: 30G-823.73, xe ô tô BKS: 36A-568.89, xe ô tô BKS: 17A-251.93, xe ô tô BKS: 30F-209.37 bị hư hỏng, đoạn tôn chắn sóng dài 12,64m trên cao tốc Pháp Vân- Cầu Giẽ bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại 04 xe ô tô và tôn chắn sóng giá trị là 425.664.000 đồng. Theo biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, nguyên nhân xảy ra tai nạn do Vũ Đình V điều khiển không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với các phương tiện đang đi phía trước nên đã đâm liên hoàn các xe đi trước, vi phạm khoản 1 Điều 12- Luật giao thông đường bộ năm 2008. Như vậy, hành vi của Vũ Đình V đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260- Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự, an toàn công cộng trên lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ gây thiệt hại về tài sản nên cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, đã bồi thường toàn bộ các thiệt hại, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại lớn về tài sản. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, các thiệt hại về tài sản đã được bồi thường toàn bộ tại cơ quan điều tra. Do đó không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội cũng để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Duy H là chủ sở hữu xe ô tô BKS: 36C-194.35 và bị cáo đã bồi thường cho các bị hại toàn bộ số tiền cụ thể như sau: anh Nguyễn Công T1 chủ sở hữu xe BKS: 30G-823.73 số tiền là 50.000.000 đồng; anh Lương Minh T2 và chị Nguyễn Thị N, chủ sở hữu xe ô tô BKS: 36A-568.89 số tiền là 90.000.000 đồng; anh Lê V T3 chủ sở hữu xe ô tô BKS: 17A-251.93 số tiền là 150.000.000 đồng; anh Nguyễn Sỹ N và chị Lương Hà Mỹ A chủ sở hữu xe ô tô BKS: 30F-209.37 số tiền là 100.000.000 đồng. Những bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì. Giữa anh H và bị cáo không tranh chấp và yêu cầu đối với số tiền đã bồi thường trên. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm dân sự trong vụ án.

Đối với vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô BKS: 36A-458.43 và xe ô tô BKS: 77C-078.99: qua điều tra xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do anh Nguyễn Ngọc L2 điều khiển xe ô tô BK: 36A-458.43 không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-078.99 kéo theo rơ mooc BKS: 77R-033.65 do anh Phan Đình Thành điều khiển, sau đó va vào tôn chắn sóng bên trái đường cao tốc, thiệt hại về tài sản là 13.333.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Ngọc L2 không cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đối với xe đầu kéo BKS: 77C-078.99 kéo theo rơ mooc BKS: 77R-033.65 do anh Phan Đình Thành điều khiển đi đúng làn đường, sau khi tai nạn xảy ra đã bật đèn cảnh báo của xe báo hiệu cho các xe di chuyển phía sau biết nên không có lỗi.

Về xử lý vật chứng:

+Đối với các xe ô tô BKS: 36A-458.43, xe ô tô BKS: 77C-078.99 kéo theo rơ mooc BKS: 77R-033.65; xe ô tô BKS: 36C-194.35; xe ô tô BKS: 30G-823.73; xe ô tô BKS: 36A-568.89; xe ô tô BKS: 17A-251.93, xe ô tô BKS: 30F-209.37 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thường Tín đã trả các xe trên cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

+ Đối với Giấy phép lái xe số 310151031566 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/10/2020 mang tên Vũ Đình V đang lưu trong hồ sơ vụ án. Do áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo đảm nhiệm hành nghề lái xe nên tiếp tục tạm giữ. Trả lại cho Vũ Đình V Giấy phép lái xe trên sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, các bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1.Về tội danh: Tuyên bố Vũ Đình V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2.Về hình phạt: Xử phạt Vũ Đình V 24 (hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND phường Quảng T5, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, các bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các bên không có yêu cầu gì về dân sự, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm dân sự trong vụ án.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47- Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tiếp tục tạm giữ Giấy phép lái xe số 310151031566 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16/10/2020 mang tên Vũ Đình V. Trả lại Giấy phép lái xe trên cho Vũ Đình V sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung.

5.Về án phí: Áp dụng Điều 136 – Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6.Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những bị hại vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến phần bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến phần bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ