- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Xuân H, tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HSST Ngày 26 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Song Lưu
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm và ông Trần Văn Học
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã YĐ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024, đối với:
Bị cáo Lương Xuân H, sinh ngày 26.4.1985; sinh trú quán: tổ dân phố N, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; Đảng, Đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Đ và bà Phan Thị H; vợ Trần Thị L, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 79/2013/HSST ngày 26/9/2013, Tòa án nhân dân huyện V xử phạt 02 năm 03 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 28/4/2015 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị L, sinh năm: 1981; trú tại: tổ dân phố N, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 04/11/2023, Lương Xuân H đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88B1 - 261.58 đến thị trấn T, huyện V tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, H gặp và mua được 03 gói heroine với giá 500.000đ của một nam thanh niên (không rõ lai lịch). Mua được ma túy, H giấu 01 gói ở túi quần phía sau bên trái còn 02 gói H cầm ở lòng bàn tay phải rồi đi về hướng xã YĐ, huyện Y để tìm nơi sử dụng. Khi đến tỉnh lộ 304 thuộc thôn G, xã YĐ, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: Tại lòng bàn tay phải của H 02 gói nhỏ bên ngoài đều bọc nilon, bên trong đựng chất bột cục màu trắng, niêm phong ký hiệu A1; tại túi quần phía sau bên trái của H 01 gói nhỏ bên ngoài bọc nilon, bên trong đựng chất bột cục màu trắng, niêm phong ký hiệu A2; tại túi quần phía trước bên phải của H 02 xi lanh, 02 lọ nước cất chưa sử dụng; 01 xe mô tô Honda Wave BKS: 88B1-261.58 đã cũ.
Tại Bản kết luận giám định số 3020/KLGĐ ngày 08/11/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“1. Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có tổng khối lượng là 0,3169g (không phảy ba một sáu chín gam, không kể bao bì), là ma túy, loại heroine.
2. Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định có khối lượng là 0,0937g (không phảy không chín ba bảy gam, không kể bao bì), là ma túy loại heroine.
Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKSYL ngày 09 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố Lương Xuân H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Lương Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt: Lương Xuân H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng, tính án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng, thể hiện như sau: Khoảng 08 giờ ngày 04/11/2023, tại đoạn đường tỉnh lộ 304 thuộc thôn G, xã YĐ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang Lương Xuân H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 03 gói nhỏ kết luận là ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,4106g, 02 xilanh, 02 lọ nước cất chưa qua sử dụng, 01 xe mô tô Honda Wave BKS 88B1 - 261.58.
. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: “1. Người nào…, tàng trữ trái phép… chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c. Heroine….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có sức khỏe nhưng không chịu khó lao động mà đã chơi bời dẫn đến nghiện ma túy. Bị cáo đã bị xét xử, xử phạt 02 năm 03 tháng tù về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học để cai nghiện, rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với người nam giới bán ma tuý cho H ngày 04/11/2023, do H không biết tên, tuổi, địa chỉ người này, do vậy cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, không đề cập xử lý.
. Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn trả sau giám định gồm: A1 = 0,2689g Heroine; A2 = 0,0373g Heroine cùng toàn bộ bao gói; 02 xilanh, 02 lọ nước cất chưa qua sử dụng, mục đích để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 xe mô tô Honda loại Wave, BKS: 88B1 - 261.58 là tài sản của chị Trần Thị L (vợ bị cáo). Ngày 04/11/2023, bị cáo sử dụng xe của chị L đi mua ma túy nhưng không nói cho chị Loan biết. Do vậy cần trả lại chị L chiếc xe mô tô Wave, BKS: 88B1 - 261.58.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lương Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 04/11/2023.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật gồm: A1 = 0,2689g Heroine; A2 = 0,0373g Heroine cùng toàn bộ bao gói do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định và 02 xilanh, 02 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng.
Trả lại chị Trần Thị L 01 xe mô tô Honda Wave, BKS: 88B1 - 261.58.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/02/2024)
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Lương Xuân H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Y; - VKSND huyện Y; - Chi cục THADS huyện Y; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Lưu |