- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Hoàng - tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HSST Ngày 03 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Trang Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nay
Ông Đào Văn Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thuật – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thanh H (tên gọi khác T), sinh ngày 06 tháng 10 năm 1989; tại: tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần C, sinh năm 1948 và bà Trần Thị S, sinh năm 1953; anh, chị, em ruột: 08 người (lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất là bị cáo); Vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14 tháng 11 năm 2023 đến nay, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Thanh H là người thường xuyên sử dụng chất ma túy (loại ma túy đá). Ngày 17/10/2023, bị cáo H mua 02 gói ma túy của người thanh niên lạ mặt trên địa bàn phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu với giá tiền 400.000 đồng nhằm để sử dụng thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Sau khi mua ma túy, bị cáo H đem về nhà cất giấu 01 gói ma túy dưới gối nằm trong phòng ngủ của bị cáo H, còn 01 gói ma tuý bị cáo H để vào bình tự chế để sử dụng. Vào lúc 11 giờ 45 phút cùng ngày, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện V, tỉnh Bạc Liêu bắt quả tang bị cáo đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà thuộc ấp C, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Tại hiện trường, Công an thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế được làm bằng chai nhựa có dán chữ sting, trên nắp chai có một phễu làm bằng thủy tinh, bên trong phễu còn chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy và 01 ống hút bằng nhựa; 01gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong gói nylon có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 131/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong phần đầu ống hình cầu của ống thủy tinh (kí hiệu M1) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng 0,05170 gam. Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong 01 (Một) gói nylon (kí hiệu M2) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng 0,24894 gam. Tổng khối lượng 0,30064 gam.
Cáo trạng số 10/CT-VKS-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thanh H như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị tịch thu tiêu hủy gồm: 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi: “131/GĐMT-2023 (ký hiệu M1)”, có chữ ký của Nguyễn Quốc K và dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B (là bộ dụng cụ tự chế để sử dụng trái phép chất ma túy và mẫu ma túy còn lại sau giám định); 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi: “131/GĐMT-2023 (ký hiệu M2)”, có chữ ký của Nguyễn Quốc K và dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B (là mẫu ma túy còn lại sau giám định), hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh H thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 11 giờ 45 phút, ngày 17/10/2023, bị cáo H bị bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà thuộc ấp C, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; với khối lượng 0,30064 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thanh H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Hoàng k thực hiện hành vi phạm tội là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thanh H là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn của xã hội nên phải bị xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; đây là tình tiết thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên xem xét cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt khi quyết định hình phạt đối với bị cáo H.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “131/GĐMT-2023 (M1)”, có chữ ký của Nguyễn Quốc K và dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B (Bộ dụng cụ tự chế để sử dụng trái phép chất ma túy và mẫu ma túy còn lại sau giám định); 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “131/GĐMT-2023 (M2)”, có chữ ký của Nguyễn Quốc K và dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B (Mẫu ma túy còn lại sau giám định), hiện đang được bảo quản theo quy định; đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên, bị cáo H khai nhận đã mua ma túy, do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Bạc Liêu chưa xác định được đối tượng, Viện kiểm sát chưa đề nghị xử lý là có căn cứ.
Đối với gia đình của bị cáo H, không biết việc bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhà, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Bạc Liêu không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không xử lý là có căn cứ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 14 tháng 11 năm 2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “131/GĐMT-2023 (M1)”, có chữ ký của Nguyễn Quốc K và dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B (bộ dụng cụ tự chế để sử dụng trái phép chất ma túy và mẫu ma túy còn lại sau giám định).
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “131/GĐMT-2023 (M2)”, có chữ ký của Nguyễn Quốc K và dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B (mẫu ma túy còn lại sau giám định).
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 3 năm 2024.).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Trần Thanh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Vĩnh Lợi; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Lợi; - CQ CSĐT-CA huyện Vĩnh Lợi; - CQ THAHS huyện Vĩnh Lợi. - Bị cáo; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Trang Thảo |