vanban.org

Bản án 13/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 24/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/03/2024. [3]. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phon… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ M
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày: 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thân Văn Hàm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điêu Văn Sáng.

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo – Thẩm phán Toà án nhân dân thị xã M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS, ngày 30/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:

Lò Văn H; Sinh ngày 20/5/19XX, tại: thị xã M, tỉnh Điện Biên. Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Đ, phường Na L, thị xã M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn P, đã chết; con bà: Lò Thị S, đã chết. gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự Không.; Nhân thân: Đã bị kết án 03 lần: Lần 1 ngày 25/01/1986 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Lần 2, ngày 05/7/1995 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội Xuất nhập cảnh trái phép; Lần 3, ngày 12/8/2005 bị Tòa án nhân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội Vân chuyển trái phép chất ma túy. Đến ngày phạm tội trong vụ án này đã được xóa án tích. Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/03/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 28/02/2024, Lò Văn H đi bộ đến khu vực bãi đất trống đối diện cung văn hóa thiếu nhi thuộc bản X, phường Na L, thị xã M gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là D, qua trao đổi bị cáo H mua của D được 01 gói heroine gói bằng túi nilon màu hồng với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã sử dụng 02 lần bằng hình hức hít, số ma túy còn lại bị cáo gói lại như cũ rồi cắt giấu trong hòm tôn để ở đầu giường của bị cáo. Hồi 15 giờ 50 phút ngày 04/3/2024 bị cáo lấy gói heroine cầm ở lòng bàn tay đi bộ ra phía cổng nhà thuộc bản Đ, phường Na L, thị xã M để tìm chỗ sử dụng thì gặp tổ công tác Công an thị xã M đang đi tuần tra, kiểm tra phát hiện bắt quả tang Bị cáo Lò Văn H đang tàng trữ 0,23 gam heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 04/03/2024 (BL 34, 35) xác định. Gói Heroine thu giữ của bị cáo Lò Văn H có khối lượng 0,23 gam Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 499/KL-PC09 ngày 09/03/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu vật chứng gửi giám định, thu giữ của bị cáo Lò Văn H là ma túy loại Heroine. Hoàn lại 0,19 gam Heroine sau giám định.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSML ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/03/2024.

Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS vì bị cáo là người nghiện ma túy, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng thi hành.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Hình sự tịch thu tiêu huỷ vật chứng vụ án.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân về tội danh cũng như hình phạt. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa: Vào hồi 15 giờ 50 phút ngày 04/03/2024, tại bản Đ, phường Na L, thị xã M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phát hiện bắt quả tang bị cáo Lò Văn H có hành vi tàng trữ 0,23 gam Heroine tại lòng bàn tay trái của H, mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng cho bản thân.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Hành vi tàng trữ Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo nêu trên là nghiêm trọng đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án kết án nhiều lần cụ thể như sau: Lần 1, ngày 25/01/1986 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Lần 2, 05/7/1995 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội Xuất nhập cảnh trái phép; Lần 3, ngày 12/8/2005 bị Tòa án nhân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Đến ngày phạm tội trong vụ án này đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo.

. Về hình phạt chính: Ma túy gây tác hại nhiều mặt của đời sống xã hội, đồng thời nó cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Từ những phân tích ở các đoạn [1]. [2] và tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

Vật chứng 0,23 gam Heroine thu giữ của bị cáo, sau khi trích gửi giám định còn lại 0,19 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với người đàn ông tên D theo lời khai của bị cáo là người đã bán Heroine cho bị cáo do cơ quan điều tra không xác minh được lý lịch nên không đủ cơ sở để xử lý trong vụ án này. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo phải nộp 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/03/2024.

[3]. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 0,19 gam Heroine còn lại sau trích giám định. (Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã M. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Chi Cục thi hành án Dân sự thị xã M ngày 31/5/2024).

[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/6/2024).

Cỡ chữ