vanban.org

Bản án 13/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 23/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo AL, AH và AC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo AL: 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (23/10/2023);

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo AL, AH và AC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KONTUM
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày: 23/01/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM - TỈNH KONTUM

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Duy Cảnh

2. Ông A Hậu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên Toà: Bà Nguyễn Thị Hương Duyên -Thư ký Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy An - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024 tại Nhà rông thôn Kon Rờ Bàng 2, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 179/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. AL (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/10/1999 tại Kon Tum; nơi cư trú: Thôn Plei Trum Đăk Choăh, phường Ngô Mây, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Bana; tôn giáo: Công giáo; Con ông A Nhik (đã chết) và bà Y HMach, sinh năm 1963; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Bị cáo sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với Y Sraih, sinh năm 1993 và có 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2023.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01.

Ngày 11/9/2023, bị Ủy ban nhân dân xã Vinh Quang ra Quyết định xử phạt hành chính, số tiền: 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành).

Về nhân thân: Ngày 15/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 18/02/2021, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống và đã chấp hành xong các quyết định khác của Bản án số 142/2020/HS-ST (đã xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến nay, có mặt.

2. AH (tên gọi khác: không), sinh ngày 17/10/2002 tại Kon Tum; nơi cư trú: Thôn Kon rơ bang 1, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Bana; tôn giáo: Công giáo; Con ông A Nglăr, sinh năm 1966 và bà Y Dơi, sinh năm 1968; gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ tám trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến nay, có mặt.

3. AC (tên gọi khác: không), sinh ngày 19/5/1999 tại Kon Tum; nơi cư trú: Thôn Kon rơ bang 1, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Bana; tôn giáo: Công giáo; con ông A Tenh, sinh năm 1964 và bà Y Mik, sinh năm 1966; gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo AL: Bà Đặng Thị Kim Nguyệt - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kon Tum, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Y Grih, sinh năm 1982

Trú tại: Thôn Kon Rơ Bang 1, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 23/10/2023, AL đang chơi điện tử cùng AH, AC tại quán Internet số 259 Lạc Long Quân, tổ 11, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum. Tại đây, AL nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã rủ AH, AC góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng thì tất cả đồng ý. Lúc này, AL góp 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), AH góp 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng), AC không có tiền nên cho mượn xe mô tô biển số 82H3 – 8118 để đi mua ma túy. Sau đó, AL điều khiển xe mô tô 82H3 – 8118 chở AH đi đến đường Quy hoạch số 2, phường Duy Tân, thành phố Kon Tum để tìm mua ma túy. Đến nơi, AL nói AH đứng đợi ở đầu đường, AL tiếp tục điều khiển xe đi vào trong thì gặp một người thanh niên tên Tâng (không rõ nhân thân lai lịch) đang đứng ven đường. Biết Tâng bán ma túy nên AL hỏi mua giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) ma túy đá thì Tâng đồng ý. AL đưa tiền cho Tâng, Tâng đưa lại cho AL 01 gói ma túy đựng trong bì ni lông trong suốt, hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng. AL cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay lại chở AH quay về quán Internet nơi AC đứng chờ. Tại đây, vào khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày AL, AH, AC bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật theo quy định pháp luật.

Tại Kết luận giám định số 297/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,125 gam.

Tại Cáo trạng số: 17/CT-VKSTPKT ngày 27/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố các bị cáo AL, AH, AC về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị:

1. Xử phạt AL từ 15 đến 18 tháng tù

2. Xử phạt AH từ 13 đến 15 tháng tù

3. Xử phạt AC từ 12 đến 13 tháng tù.

Các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định; Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo AL: Bà Đặng Thị Kim Nguyệt thống nhất với Cáo trạng truy tố về tội danh, điều luật áp dụng và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo nói chung và AL nói riêng. Nhận thấy bị cáo AL đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo AL là người đồng bào dân tộc thiểu số ở thôn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét mức án nhẹ hơn mức án mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với AL và miễn án phí cho bị cáo.

Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là trái pháp luật, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo AL, AH và AC phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để khẳng định:

Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 23/10/2023, tại quán Internet số 259 Lạc Long Quân, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, AL đã rủ AH, AC góp tiền đi mua ma túy về với mục đích để sử dụng chung, thì tất cả đều đồng ý. AL góp 100.000 đồng, AH góp 50.000 đồng, AC không có tiền nên cho AL mượn xe mô tô biển số 82H3-8118 để đi mua ma tuý. Sau đó, AL dùng xe mô tô trên của AC chở AH đi mua của Tâng (chưa xác định nhân thân, lai lịch) 150.000 đồng ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, AL cất giấu gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi chở AH đi về. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, AL, AH đi về lại quán Internet số 259 Lạc Long Quân, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum phát hiện bắt quả tang. Kết quả giám định xác định gói ma tuý thu giữ trên người AL là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,125 gam. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo AL, AH và AC đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng viện kiểm sát truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe con người, tiếp tay cho các đối tượng mua, bán trái phép chất ma túy và là nguyên nhân gây phát sinh nhiều hành vi phạm tội, tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm và thấy trước được tác hại của việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra. Vụ án, được Cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân rất quan tâm. Để tuyên truyền, giáo dục pháp luật và thiết lập lại tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Kon Tum nói chung và xã Vinh Quang nói riêng. Xét cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc. Cách ly các bị cáo với đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo, trở thành người có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung đối với các tội phạm.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều thống nhất việc góp tiền để đi mua ma túy với mục đích để sử dụng. Trong đó, AL là người khởi xướng vừa là người thực hành, AH và AC là người giúp sức đồng phạm trong vụ án. Do đó, phải xử phạt AL mức án cao hơn so với AH, AC.

[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà các bị cáo được hưởng.

[5] Về nhân thân:

Đối với các bị cáo AH và AC có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự;

Đối với bị cáo AL có 01 tiền sự, Ngày 11/9/2023 bị Ủy ban nhân dân xã Vinh Quang ra Quyết định xử phạt hành chính, số tiền: 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành).

Ngoài ra, ngày 15/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 18/02/2021, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống và đã chấp hành xong các quyết định khác của Bản án số 142/2020/HS-ST (đã xóa án tích).

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng và điều kiện để áp dụng hình phạt bổ sung, do đó HĐXX xét miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,121 gam (không phẩy một hai một) gam ma túy loại Methamphetamine (số ma túy còn lại sau giám định), 01 (một) bì ni lông trong suốt, 01 (một) phong bì đựng mẫu vậy gửi giám định, tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ 297/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán. Đây là chất cấm lưu hành và công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên xét tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 82H3-8118 của AC (đã mua của ông A Kĕng) AC đã sử dụng vào việc phạm tội trong vụ án, nên xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8] Về các tình tiết khác:

- Đối với người thanh niên Tâng (Không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy cho AL. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum đã tiến hành xác minh nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.

- Đối 01 xe mô tô biển kiểm soát 82H3-8118. Quá trình điều tra, xác minh chiếc xe này do ông A Kĕng (sinh năm: 1980; trú tại thôn Kon Rơ Bang 1, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum) đứng tên sở hữu. Tuy nhiên vào đầu năm 2023, ông A Kĕng đã bán lại xe này cho AC nhưng không làm thủ tục sang tên. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Kon Tum không xử lý đối với A Kĕng là có căn cứ.

[9] Về án phí: Các bị cáo AH, AC phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo AL là người đồng bào dân tộc thiểu số ở thôn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên xét miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo AL, AH và AC phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

2.Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo AL: 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (23/10/2023);

Xử phạt bị cáo AH: 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (23/10/2023);

Xử phạt bị cáo AC: 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (23/10/2023).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 0,121 gam (không phẩy một hai một) gam ma túy loại Methamphetamine (số ma túy còn lại sau giám định), 01 (một) bì ni lông trong suốt, 01 (một) phong bì đựng mẫu vậy gửi giám định, tất cả được niêm phong trong 01 (một) phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ 297/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 82H3-8118, đã qua sử dụng

Tất cả các vật chứng nêu trên đều có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05/01/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án Các bị cáo AH, AC mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo AL.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/01/2024).

Cỡ chữ