- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Tuấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 31 – 01 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
2. Ông Nguyễn Văn Mua
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Tuấn D, sinh năm 1997 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu T và bà Phan Thị H; vợ Phạm Thị Hồng C và 02 người con (lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021).
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Bùi Hữu T, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt)
2/ Anh Phạm Trần K, sinh năm 1995; nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 12 giờ 55 phút ngày 22/9/2023, qua công tác trinh sát, lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã M phát hiện Bùi Tuấn D điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 68T1-109.42 trên đường đal đoạn giáp với tỉnh lộ 904 thuộc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên yêu cầu Bùi Tuấn D dừng xe để kiểm tra, D dừng xe lại thì bị ngã xuống lề tỉnh lộ 904. Dĩ dùng tay trái vùi bịch nylon xuống cát. Lực lượng Công an kiểm tra thì phát hiện tại nơi D vùi xuống cát có 01 bịch nylon trong suốt, được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy nên lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật thu giữ:
- 01 bịch nylon trong suốt, được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (niêm phong đánh số 1).
- 01 xe mô tô biển số kiểm soát 68T1-109.42.
Qua làm việc, Bùi Tuấn D khai nhận: Bịch nylon trong suốt, được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng mà lực lượng Công an thu giữ là ma túy đá, bịch ma túy do người bạn tên Nguyễn Minh T1 (tên thường gọi là Q) sinh năm 1998 ngụ ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long vừa đưa cho D tại nhà của T1 để trừ tiền mà T1 thiếu Dĩ trước đó, mục đích D lấy bịch ma túy về là để sử dụng. Khi D điều khiển xe từ nhà của T1 ra về đến đoạn đường trên thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 669 ngày 25/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1066 gam loại: Methamphetamine.
Ngày 27/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Bùi Tuấn D, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- 01 phong bì niêm phong số 669/1, bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định là 0,0438 gam và vỏ bao gói.
- 01 xe mô tô biển số kiểm soát 68T1-109.42.
Tại Cáo trạng số: 116/CT-VKSTB ngày 04/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Bùi Tuấn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Tuấn D thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.
Đối với Nguyễn Minh T1 hiện tại không có mặt tại địa phương, khi nào Cơ quan điều tra làm việc được sẽ xử lý sau.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Tuấn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Tuấn D mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong số 669/1 ngày 25/9/2023, trên phong bì có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng K1 Công an tỉnh V và có chữ ký, chữ viết của bên giao là giám định viên Nguyễn Thành T2, bên nhận là Phan Thành T3. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,0438 gam và vỏ bao gói.
- Trả cho ông Bùi Hữu T: 01 xe mô tô màu đen, biển số kiểm soát 68T1-109.42, xe đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Lúc 12 giờ 55 phút ngày 22/9/2023 tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Bùi Tuấn D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 0,1066 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã M kiểm tra bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Bùi Tuấn D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật, thấy được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời giúp bị cáo cai nghiện, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ: 01 (một) phong bì niêm phong số 669/1 ngày 25/9/2023, trên phong bì có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng K1 Công an tỉnh V và có chữ ký, chữ viết của bên giao là giám định viên Nguyễn Thành T2, bên nhận là Phan Thành T3. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,0438 gam và vỏ bao gói.
- Trả cho ông Bùi Hữu T: 01 xe mô tô màu đen, biển số kiểm soát 68T1-109.42, xe đã qua sử dụng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Tuấn D phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Tuấn D 01 (Một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 669/1 ngày 25/9/2023, trên phong bì có dấu tròn màu đỏ có dòng chữ Phòng K1 Công an tỉnh V và có chữ ký, chữ viết của bên giao là giám định viên Nguyễn Thành T2, bên nhận là Phan Thành T3. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,0438 gam và vỏ bao gói.
- Trả cho ông Bùi Hữu T: 01 (Một) xe mô tô màu đen, biển số kiểm soát 68T1-109.42, xe đã qua sử dụng.
Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 22/12/2023.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Tuấn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Tam Bình; - Chi cục THADS huyện Tam Bình; - CQĐT Công an huyện Tam Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Long; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã Hòa Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đ ý Trần Thanh Thảo |