- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn Đ phạm tội "Huỷ hoại rừng" - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Phạt Lô Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Huỷ hoại rừng”. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 29 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mong Thái Dương và ông Mong Văn Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Nhuần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Cương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Lô Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20 tháng 8 năm 1974, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không học; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Văn Đ; con bà: Lô Thị Đ (Đã chết); có vợ: Lô Thị Đ và 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lô Văn Đ: Bà Nguyễn Thị T; Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã Q;
Người đại diện: Ông Lô Văn C; chức vụ: Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Địa chỉ: Bản C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Người làm chứng: Anh Lương Văn C, sinh năm 1988; trú tại bản C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào giữa tháng 5/2022 Lô Văn Đ và Lương Văn C đến khoảnh 17, tiểu khu 141 thuộc xã Quang Phong, huyện Quế Phong dùng dao phát cây rừng với mục đích lấy đất để trồng cây keo. Lô Văn Đ phát khoảng 15 ngày. Đến đầu tháng 6/2022 Hạt kiểm Lâm huyện Quế tiến hành kiểm tra, phát hiện rừng tại khoảnh 17, tiểu khu 141 bị chặt phá, có dấu hiệu tội phạm nên đã lập hồ sơ ban đầu và chuyển cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Biên bản xác định hiện trạng rừng do Hạt kiểm lâm huyện Quế Phong lập ngày 05/6/2022; biên bản khám nghiệm hiện trường của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong ngày 06/8/2022 và biên bản thực nghiệm điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong ngày 08/11/2022 thể hiện tại khoảnh 17, tiểu khu 141 Lô Văn Đ đã chặt phá gồm: Lô 47 diện tích 1.200 mét vuông; lô 76 diện tích 14.900 mét vuông; lô 78 diện tích bị chặt phá 2.900 mét vuông; lô 79 diện tích bị chặt phá 1.300 mét vuông. Tổng diện tích rừng Lô Văn Đ huỷ hoại là 20.300 mét vuông. Lương Văn C chặt phá lô 72 diện tích 3.400 mét vuông và lô 76 diện tích 8.500 mét vuông. Tổng diện tích rừng của Lương Văn C huỷ hoại là 11.900 mét vuông.
Công văn số 327/SNN.KL ngày 07/02/2023 của Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An cung cấp thông tin về quy hoạch rừng: Xác định loại rừng: Khu vực các lô 47,72,76,78,79 khoảnh 17 tiểu khu 141 thuộc địa bàn xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An thuộc quy hoạch rừng phòng hộ.
Xác định trạng thái rừng: Các lô 47, 72, 76 khoảnh 17, tiểu khu 141, xã Quang Phong là rừng tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh chưa có trữ lượng (Rừng khoanh nuôi tái sinh chưa có trữ lượng). Các lô 78, 79 khoảnh 17, tiểu khu 141, xã Quang Phong là rừng tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh trung bình.
Xác định chủ quản lý: Các lô 47,72,76,78,79 khoảnh 17 tiểu khu 141 thuộc địa bàn xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An là đất quy hoạch lâm nghiệp chưa giao, chưa cho thuê, hiện nay do Uỷ ban nhân dân xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An quản lý.
Lương Văn C huỷ hoại 11.900 mét vuông rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng nên không cấu thành tội phạm. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Lô Văn Đ đã huỷ hoại 4,200 mét vuông rừng phòng hộ và 16.100 mét vuông rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng.
Kết luận định giá tài sản ngày 25/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Quế Phong xác định giá trị thiệt hại về lâm sản do Lô Văn Đ hủy hoại là 12.746.400 đồng (Mười hai triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn bốn trăm đồng).
Tại phiên tòa bị cáo Lô Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Từ giữ tháng 5/2022 đến cuối tháng 5/2022 Lô Văn Đ đến khoảng 17, tiểu khu 141 thuộc xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An chặt, phát trái phép. Diện tích rừng bị chặt phát là 4.200 mét vuông rừng phòng hộ và 16.100 mét vuông rừng khoank nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng.
Cáo trạng số 117/CT-VKS-QP ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lô Văn Đ về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Lô Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao đăn thu giữ của bị cáo; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Lô Văn Đ từ 12 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Tại cơ quan điều ta nguyên đơn dân sự cho rằng bị cáo phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo thuộc hộ cận nghèo, nên không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Từ giữa tháng 5/2022 đến cuối tháng 5/2022 Lô Văn Đ đến khoảnh 17, tiểu khu 141 thuộc xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An chặt, phát trái phép. Diện tích rừng bị chặt, phát là 4.200 mét vuông rừng phòng hộ và 16.100 mét vuông rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng. Mức độ thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng là 100%. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, chế độ bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. Do đó bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, chế độ bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; gây thiệt hại lớn đến môi trường sinh thái. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy cần xét xử nghiêm cho tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo có bố tên là Lô Văn Định được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng; nên giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đáp ứng được công tác và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Lô Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là hợp lý.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lô Văn Đ không có tài sản gì đáng giá, thuộc hộ cận nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: Tại cơ quan điều tra nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường với lý do bị cáo không có tài sản gì đáng giá; thu nhập thấp; điều kiện kinh tế khó khăn, thuộc hộ cận nghèo; Nếu yêu cầu bị cáo bồi thường sẽ không thể thi hành được. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này có yêu cầu sẽ xem xét và giải quyết bằng một vụ án khác.
Về vật chứng: Đối với 01 con dao đăn là phương tiện phạm tội không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Phạt Lô Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Huỷ hoại rừng”. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lô Văn Đ cho ủy ban nhân dân xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với ủy ban nhân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Lô Văn Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao đăn thu giữ của bị cáo Lô Văn Đ.
Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 28/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lô Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm
Bị cáo Lô Văn Đ có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ /.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Nguyên đơn dân sự - VKSND huyện Quế Phong. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Quế Phong. - Chi cục THA DS huyện Quế Phong. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |