vanban.org

Bản án 13/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày 05 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Văn Đê;

Ông Trần Văn Kiêm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 2 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh năm 1985 tại xã NL, huyện NH, tỉnh Nam Định; đăng ký thường trú và nơi ở: Xóm 2, xã Nam Điền, huyện NH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1950 và bà Trần Thị Nhuần, sinh năm 1954; có vợ Vũ Thị Mai, sinh năm 1987 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2010; tiền án: Ngày 06/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện NH xử phạt 09 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 30/6/2022 chấp hành xong hình phạt; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/7/2021 bị Công an huyện Hải Hậu xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định, “có mặt”.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Đức L, “có mặt”

- Người chứng kiến: Anh Vũ Văn N, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma túy nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 08/12/2023 Nguyễn Văn K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer màu đen, biển kiểm soát 18L1- 646.39 từ nhà ở đi đến thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi khu vực cảng cá Ninh Cơ thuộc tổ dân phố số 21, thị trấn Thịnh Long, K gặp một người đàn ông không quen biết, K hỏi: “Anh có hàng không?”, người đàn ông hiểu ý K hỏi mua ma túy thì trả lời: “Mua bao nhiêu?”, K lấy số tiền 500.000đồng đưa cho người đàn ông, người này nhận tiền và đưa lại cho K 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (6x10) cm bên trong có 02 gói chất bột dạng cục màu trắng. K cầm và giấu trong tất chân bên phải. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày khi K đang đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 - Bộ tư lệnh cảnh sát biển phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Hải Thịnh kiểm tra, phát hiện thu giữ trong tất chân bên phải của K đang đi có 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng đều có kích thước (1,5 x2)cm bên trong chất bột dạng cục màu trắng. K khai là Heroine vừa mua, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng ký hiệu A, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của K: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer, biển kiểm soát 18L1- 646.39; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus màu đỏ, số IMEI 356734087001982, bên trong gắn 01 sim có số thuê bao 0914.541.844; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn K. Quá trình điều tra K đã thành khẩn khai báo.

Tại bản kết luận giám định số 1745/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc màu vàng đựng trong túi nilon niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu A: 0,462 gam.

Cáo trạng số 13/CT-VKSHH, ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái về hành vi của mình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số Heroin hoàn trả mẫu vật sau giám định; Trả lại bị cáo Nguyễn Văn K 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer màu đỏ, biển kiểm soát 18L1 – 646.39, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus màu đỏ bên trong gắn sim có số thuê bao 0914.541.844; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn K là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 08/12/2023, tại khu vực cảng cá Ninh Cơ, thuộc tổ dân phố số 21, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, bị cáo Nguyễn Văn K có hành vi cất giấu trái phép 0,462 gam Heroine trên người để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố là đúng.

Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm và có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng và là thương binh hạng 4/4 nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo K, bị cáo khai không biết tên tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ cơ sở kết luận nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

Số Heroine đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer, biển kiểm soát 18L1-646.39; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus màu đỏ, số IMEI 356734087001982, bên trong gắn 01 sim có số thuê bao 0914.541.844; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn K thu giữ của Nguyễn Văn K. Quá trình điều tra xác định những tài sản này là tài sản hợp pháp của bị cáo, nên cần trả lại chiếc xe mô tô, điện thoại di dộng và căn cước công dân cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn K bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số Heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1745/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn K: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer, biển kiểm soát 18L1- 646.39; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus màu đỏ, số IMEI 356734087001982, bên trong gắn 01 sim có số thuê bao 0914.541.844; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn K.

(Các vật chứng nêu trên được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 23 - 02-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ