- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức C " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian t…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HS-PT Ngày: 07 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Anh Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đức Cảnh
Bà Mai Thị Minh Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 16/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức C, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức C, sinh năm 1984 tại: tỉnh Thái Bình; Số CCCD: 03484010256; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; số căn cước công dân: 03484010256; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L và bà Đỗ Thị M; có vợ là Ngô Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: năm 2017 bị công an Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”; bị tạm giam từ ngày 14-11-2023 đến ngày 05-12-2023, được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. (bị cáo có mặt).
- Bị hại: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1953; nơi cư trú: thôn Đ, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 04 giờ 59 phút ngày 17/8/2023, Nguyễn Đức C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai loại H1 (Starex) sơn màu ghi, biển kiểm soát (BKS) 17A – 149.85 đi trên Quốc lộ 10, thành phố Nam Định theo hướng đi từ tỉnh Thái Bình đến tỉnh Ninh Bình trong điều kiện: Quốc lộ 10 là đường hai chiều, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, ở giữa có hai vạch sơn màu vàng kẻ thẳng để phân chia 02 chiều đường riêng biệt, mỗi chiều đường có ba làn đường được phân chia bằng vạch sơn màu trắng kẻ đứt đoạn; trời tối, không mưa, mặt đường khô ráo, đường có đèn cao áp chiếu sáng tầm nhìn không bị hạn chế, mật độ người và phương tiện giao thông vắng, C điều khiển xe ô tô đi tại làn đường ở giữa của chiều đường bên phải theo hướng đi cách mép đường bên phải khoảng 5,5m,vận tốc khoảng 60km/h. Đi qua khu vực đường giao nhau giữa Quốc lộ 10 và đường Võ Nguyên Giáp phường Thống Nhất thành phố Nam Định khoảng 20m, C thấy 01 xe ô tô khách 16 chỗ đi ở làn phía trong vượt lên rồi dừng lại sát mép đường bên phải để đón khách nên C chỉ quan sát bên tay phải để nhìn chiếc xe khách mà không quan sát phía trước và bên trái. Khi đi tiếp được khoảng 10m đến khu vực km 104+100 thì C phát hiện bà Phạm Thị T sinh năm 1953, trú tại thôn Đ, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định đang đi bộ qua đường từ trái qua phải theo hướng xe C đi, cách mép đường bên phải khoảng 5,5m và cách đầu xe ô tô khoảng 2m. Do khoảng cách gần không kịp xử lý nên C đã để phần đầu phía trước bên phải xe ô tô xô vào phần hông bên phải bà T làm bà T bị hất văng về phía trước chếch chéo sang phải khoảng 8m đập đầu xuống đường và bất tỉnh. C cùng người dân đưa bà T đi bệnh viện cấp cứu.
Hậu quả: Bà T bị chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn, chấn thương bụng kín, gãy ngành ngồi mu - chậu mu 02 bên, vỡ xương cánh chậu; gãy xương cẳng chân phải, gãy hở đốt ngón 3 bàn chân phải.
Tại hiện trường xuất hiện: vết máu loang trên Quốc lộ 10 ở làn đường trong cùng kích thước 1,10m x 0,40m tâm vết máu cách mép đường chuẩn là 2,80m và cách mép đường phụ về phía Lộc Hạ 38,40m; Vết trượt kích thước 5,10 m x 0,10m để lại màu đen nhạt trên mặt đường quốc lộ 10 vết có hướng Lộc Hạ - Lộc Hòa và hơi chếch từ giữa đường vào trong mép đường chuẩn điểm đầu cách cách mép đường chuẩn 6,50m và cách tâm vết máu là 16,30m, điểm cuối vết cách mép đường 6,46m; Xe ô tô BKS 17A – 149.85 đỗ trên mặt cầu Vĩnh Giang đầu xe hướng Lộc Hòa đuôi xe quay hướng Thái Bình, điểm giữa mép ngoài bánh xe phía trước bên phụ cách mép đường chuẩn là 4,35m và cách mốc 9,80m, điểm giữa mép ngoài bánh xe phía sau bên phụ cách mép đường chuẩn là 4,40m.
Tại biên bản khám nghiệm xe ô tô BKS 17A – 149.85 xác định tại góc trước bên phải chắn đà phía trước xe bị cong vênh có vết nứt rách kích thước dài 13cm điểm gần nhất trùng mép dưới chắn đà, điểm thấp nhất cách mặt đất 50cm. Tại cụm đèn chiếu sáng phía trước và chuyển hướng bên phải xe có vết va chạm vết nứt vỡ nham nhở vết có các mảnh vỡ trong chóe đèn kích thước vết 62 x 35 cm điểm gần nhất trùng mép cạnh dưới cụm đèn điểm thấp nhất cách mặt đất 73cm.Tại mặt ngoài tai xe bên phải có vết va chạm làm bẹp lõm tai xe kích thước vết 65 x 25 cm điểm gần nhất trùng với mép trước tai xe bên phải. Mặt ngoài má lốp trước bên phải có vết trượt làm chùi sạch bụi đất kích thước 65 x 0,6 cm.
Quá trình điều tra xác định tại thời điểm xảy ra vụ việc trong hơi thở của Nguyễn Đức C không có nồng độ cồn, trong mẫu nước tiểu không có chất ma túy.
Tại bản kết luận số 1402/KL- KTHS ngày 22/9/2023 về giám định dữ liệu kỹ thuật số và điện tử của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu giám định; tại thời điểm 4 giờ 54 phút 30 giây xe ô tô 17A – 149.85 đang di chuyển trên làn đường ở giữa bên phải vạch phân chia phần đường theo chiều chuyển động của xe hướng từ Thái Bình đi Ninh Bình;Tốc độ của xe ô tô tại thời điểm 4 giờ 59 phút 18 giây ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông là 46,11 km/h ± 1,84 km/h.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 18/23/TgT ngày 18/10/2023 của Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của bà Phạm Thị T là 89%; cơ chế hình thành vết thương: đa chấn thương do cơ thể va đập với vật cứng.
Về dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc, Nguyễn Đức C đã thăm hỏi và bồi thường cho bà Phạm Thị T số tiền là 50.000.000 đồng. Bà T đã nhận tiền và không có yêu cầu gì khác.
Chiếc xe ô tô BKS 17A – 149.85, Nguyễn Đức C mượn là tài sản của ông Trần Quốc Bằng, sinh năm 1976, trú tại 936 đường Lý Bôn, phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, nên Cơ quan điều tra đã trả lại phương tiện cho chủ sở hữu.
Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2024/HS-ST ngày 26-01-2024 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 18 (mười tám) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14-11-2023 đến ngày 05-12-2023.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 12-12-2023, bị cáo Nguyễn Đức C làm đơn kháng cáo với nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là quá nặng, chưa xem xét một số tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Gia đình bị cáo hoàn C rất khó khăn, vợ bị cáo đã bỏ nhà đi nhiều năm không về, bị cáo là người lao động chính trong gia đình, là người trực tiếp chăm sóc bố mẹ đau ốm và hai con nhỏ đang học tiểu học. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc bố mẹ và các con nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo: Khoảng 04 giờ 59 phút ngày 17-8-2023, Nguyễn Đức C (có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định) điều khiển xe ô tô BKS 17A – 149.85 theo hướng từ tỉnhThái Bình đi tỉnh Ninh Bình khi đi đến km 104+100 Quốc lộ 10 phường Thống Nhất, thành phố Nam Định không chú ý quan sát; không nhường đường cho người đi bộ qua đường nên đã để phần đầu phía trước bên phải xe ô tô xô vào phần hông bên phải bà Phạm Thị T đang đi bộ qua đường làm bà T bị hất văng lên đập người xuống đường bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 89%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 28, khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hợp lệ, và hiểu rõ các quy định của Luật giao thông đường bộ, đáng lẽ bị cáo phải lường trước được các hậu quả có thể xảy ra, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý do cẩu thả. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo với lý do: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là quá nặng, chưa xem xét một số tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Gia đình bị cáo hoàn C rất khó khăn, vợ bị cáo đã bỏ nhà đi nhiều năm không về, bị cáo là người lao động chính trong gia đình, là người trực tiếp chăm sóc bố mẹ đau ốm và hai con nhỏ đang học tiểu học. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc bố mẹ và các con nhỏ; Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo để quyết định hình phạt; Tuy nhiên, lỗi vi phạm xảy ra tai nạn giao thông là lỗi vô ý, hậu quả mà bị cáo gây ra không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu, hoàn C gia đình bị cáo khó khăn và đặc biệt là bị hại tiếp tục có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố mẹ bị cáo già yếu, con còn nhỏ, vợ bỏ đi nhiều năm nay, bị cáo là người gánh vác mọi việc trong gia đình, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành qui định pháp luật và qui định của địa phương được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Như vậy, tại cấp phúc thẩm bị cáo có những tình tiết mới, có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS và có nơi cư trú rõ ràng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tù trong hoàn C của bị cáo như nhận định nêu trên là có phần chưa phù hợp. HĐXX quyết định giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Tạo điều kiện để bị cáo tu dưỡng rèn luyện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo được chấp nhận, nên người kháng cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức C cho UBND xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 14-11-2023 đến ngày 05-12-2023.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức C không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Nam Định; - TA-CA-VKS TP Nam Định; - Chi cục THADS TP Nam Định; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mai Anh Tuấn (Đã ký) |