vanban.org

Bản án 13/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung giữa Chị Nguyễn Thị Thùy L và Anh Lê Văn G"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-02-2024
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Nguyễn Văn Cường.

2. Ông Nguyễn Tùng Châu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Trà My – Thư ký viên Tòa án nhân dân

thành phố Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa:

Không tham gia.

Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1999; nơi cư trú: Khu phố L,

thị trấn T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Văn G, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số nhà B, đường C, Khóm

C, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn

chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày:

Chị và anh Lê Văn G tự quen nhau, tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân có đăng ký

kết hôn vào ngày 18/9/2018, tại Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu chung sống anh chị rất hạnh phúc, nhưng khoảng 04 năm nay thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng gay gắt nên chị và anh G sống ly thân cũng khoảng 04 năm nay. Chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh G không còn nên xin được ly hôn với anh G.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Đan N, sinh ngày 19/11/2019,

khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Lê Văn G có ý kiến là đồng ý ly hôn với chị

L; đồng ý giao con chung Lê Nguyễn Đan N, sinh ngày 19/11/2019 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh G không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên

yêu cầu khởi kiện, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa

và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227,

Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Đây là vụ án tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con chung” quy định tại Điều 28 Bộ

luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thành phố V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Lê Văn G sống chung và

có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị L và anh G tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân trên cơ sở yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng trong quá trình chung sống lại phát sinh mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hạnh phúc, đồng thời chị L xác định vợ chồng đã ly thân từ khoảng 04 năm nay. Chị L nhận thấy vợ chồng chung sống mà không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên xin ly hôn với anh G, anh G cũng đồng ý ly hôn. Căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị L và anh G là có cơ sở.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Lê Văn G có 01 con chung

tên Lê Nguyễn Đan N, sinh ngày 19/11/2019. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của chị L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh G, anh G không có ý kiến gì về việc chị L yêu cầu nuôi con chung, nhưng tại đơn xin xét xử vắng mặt của anh G, anh G đồng ý giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh G không phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về nuôi con chung của chị L và anh G là có cơ sở thỏa theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Chị L không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận sự tự nguyện của chị L.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh G cùng xác định không có tài

sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 235 Bộ luật Tố

tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 55; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thùy L

và anh Lê Văn G

2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Đan N, sinh ngày 19/11/2019

cho chị L nuôi dưỡng. Anh G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom

con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu

thay đổi cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn

đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số N0 0006359 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, chị L không phải nộp thêm.

6. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày

nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ