vanban.org

Bản án 13/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đào Thị T và anh Nguyễn Văn Q là vợ chồng. Về nuôi con tên: Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 29/9/1992 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 21/12/1997 đã thành niên chị T không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị T.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10/01/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

“V/v tranh chấp ly hôn giữa chị
T và anh Q”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Lê Thị Tranh.

Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Đương

Ông Lê Văn Được

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thị Vân Khoa, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn An – Kiểm sát viên. Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 107/2023/TLST-HNGĐ, ngày 20/11/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐST-HN, ngày 14/12/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 14/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 29/12/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị T, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Đào Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 1992 chị và anh Q qua mai mối và xác lập quan hệ hôn nhân nhưng không có đăng ký kết hôn, thời gian chung sống chị và anh Q có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 29/9/1992 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 21/12/1997 đã thành niên, quá trình chung sống chị T cho rằng anh Q hay ghen tuông vô cớ, thường xuyên uống rượu về đánh đập chị và đập phá đồ đạt trong nhà nên chị bỏ về nhà mẹ ruột sống hơn một năm nay, tình cảm giữa vợ chồng không còn. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

Về con chung tên: Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 29/9/1992 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 21/12/1997 đã thành niên chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị T không tranh chấp, không khởi kiện, không đặt ra yêu cầu giải quyết.

Về số nợ phải thu, phải trả: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Văn Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên không có lời trình bày.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà đều tống đạt đầy đủ cho các đương sự nhận. Về chấp hành pháp luật của đương sự, chị T thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình riêng anh Q không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị T, tuyên bố không công nhận chị T và anh Q là vợ chồng, về con chung Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 29/9/1992 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 21/12/1997 đã thành niên chị T không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và về số nợ phải thu, phải trả chị T không tranh chấp, không yêu cầu nên không xem xét, về án phí chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Nguyễn Văn Q có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét đơn khởi kiện của chị T khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Q nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị T và anh Q chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1992 nhưng đến nay chị T và anh Q không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Từ đó xác định hôn nhân của chị T và anh Q là không hợp pháp.

Xét thấy quá trình chung sống giữa chị T và anh Q tuy chưa thống nhất nhau về quan điểm đời sống vợ chồng, lối sống, về cách ứng xử giao tiếp thì anh chị phải biết tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với cuộc sống hiện tại, cùng nhau góp ý xây dựng, chia sẽ và tôn trọng lẫn nhau để tìm cách giải quyết mọi vấn đề một cách êm đẹp nhất nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình. Khi mâu thuẫn phát sinh chị T và anh Q đều bỏ mặt cho hậu quả xảy ra, không còn quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, anh chị luôn bất hòa với nhau về mọi mặt và anh, từ khi ly thân hơn một năm nay anh chị cũng không quan tâm đến hạnh phúc gia đình mạnh ai nấy sống làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nức.

Mặt khác khi xác lập quan hệ hôn nhân, chị T và anh Q có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nhưng chị T và anh Q không đăng ký kết hôn mà lại chung sống với nhau như vợ chồng là vi phạm Điều 09 của Luật hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 03 Nghị quyết số: 35/2000/QH10 - Quốc hội khoá X nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q và tại phiên tòa hôm nay anh Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do nghĩ nên tuyên bố không công nhận chị T và anh Q là vợ chồng, là đúng quy định Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con tên: Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 29/9/1992 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 21/12/1997 đã thành niên chị T không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị T không khởi kiện, không tranh chấp, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về số nợ phải thu, phải trả: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

- Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 01 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228 Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 09, 14, 51, khoản 02 Điều 53, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 03 Nghị quyết số: 35/2000/QH10 của Quốc hội khoá X. Kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 09/6/2000.

Căn cứ vào khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đào Thị T và anh Nguyễn Văn Q là vợ chồng.

Về nuôi con tên: Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 29/9/1992 và Nguyễn Thị Thanh T1, sinh ngày 21/12/1997 đã thành niên chị T không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị T không khởi kiện, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về số nợ phải thu, phải trả: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Đào Thị T có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0019184, ngày 20/11/2023 do chị T nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu, chị Đào Thị T đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ