- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 13/2024/DS-ST Ngày: 07-5-2024 V/v Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thành Trung;
2. Ông Trương Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự x t xử sơ thẩm c ng khai vụ án thụ lý số: 226/2023/TLST-DS ngày 25/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số: 35/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 38/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự gi a các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S sinh năm 1960.
HKTT: ấp L xã P huyện T tỉnh Đồng Tháp.
Trú tại: số C khóm B phường A thành phố H tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Dương Văn N sinh năm 1964.
Địa chỉ: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 22/11/2023). Có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1965
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố H Đồng Tháp.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị L là: Ông Lê H u Đ sinh năm 1963. Địa chỉ: số E, tổ H, hẻm G, Chu Văn A, khóm M, thị trấn P, huyện P, An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 02/5/2024). Có mặt.
2.2. Ông Trình H u H sinh năm 1988 (Con trai bà L).
Địa chỉ: ấp T xã T thành phố H Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trình Văn Đ1 sinh năm 1963 (Chồng bà L);
3.2. Bà Huỳnh Thị Ngọc H1 sinh năm 1996 (Vợ của ông H).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn anh Trình Hữu H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 là: Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1965. Địa chỉ: ấp T xã T thành phố H tỉnh Đồng Tháp (theo các giấy ủy quyền ngày 24/11/2023). Vắng mặt.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Trần Văn M, sinh năm 1983
Địa chỉ: ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt).
4.2. Bà Bùi Thị Ngọc H2, sinh năm 1994
Địa chỉ: Khóm M phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Văn N trình bày:
Trong khoảng thời gian từ tháng 09/2019 đến tháng 08/2022, bà Nguyễn Thị L cùng con trai bà L là ông Trình H u H có vay của ng Nguyễn Văn S, tổng số tiền là 11.940.899.000đ (Mười một tỷ chín trăm bốn mươi triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng). Được thể hiện ở các biên nhận sau:
+ Lần 1: Ngày 16/09/2019 là 4.188.000.000đ (Bốn tỷ một trăm tám mươi tám triệu đồng); Bà L ký.
+ Lần 2: Ngày 20/09/2019 là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng); Bà L và ông H ký.
+ Lần 3: Ngày 30/09/2019 là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng); Bà L và ông H ký.
+ Lần 4: Ngày 04/11/2019 là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng); Bà L ký.
+ Lần 5: Ngày 07/11/2019 là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng); Bà L ký.
+ Lần 6: Ngày 13/11/2019 là 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng); Ông H ký.
+ Lần 7: Ngày 28/11/2019 là 900.000.000đ (Chín trăm triệu đồng); Bà L và ông H ký.
+ Lần 8: Ngày 08/12/2019 là 337.000.000đ (Ba trăm ba mươi bảy triệu đồng), có trả được 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Còn lại 237.000.000đ (Hai trăm ba mươi bảy triệu đồng); Bà L ký.
+ Lần 9: Ngày 13/08/2022 là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng); Bà L ký.
+ Lần 10: Ngày 02/01/2020 là 2.543.000.000đ (Hai tỷ năm trăm bốn mươi ba triệu đồng) để đáo hạn Ngân hàng; Bà L và ông H ký.
+ Lần 11: Ngày 28/01/2020 là 583.499.000đ (Năm trăm tám mươi ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn đồng); Bà L ký.
+ Lần 12: Ngày 02/04/2020 vay hai lần, lần đầu là 265.000.000đ (Hai trăm sáu mươi lăm triệu đồng) và lần hai là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Tổng hai lần là 305.000.000đ (Ba trăm lẻ năm triệu đồng); Bà L ký.
+ Lần 13: Ngày 01/05/2020 là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng); Bà L ký.
+ Lần 14: Ngày 25/05/2020 là 2.069.400.000đ (Hai tỷ kh ng trăm sáu mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng); Bà L ký.
+ Lần 15: Ngày 07/06/2020 là 10.000.000đ (Mười triệu đồng); Bà L ký.
Tất cả đều có làm biên nhận do bà Nguyễn Thị L và ông Trình H u H ký tên và ghi họ tên đầy đủ. Sau một khoảng thời gian khá lâu bà L không trả tiền lại cho ông S. Vào ngày 22/09/2023, ông S có làm một thông báo nhắc nợ gửi đến bà L và ông Trình Văn Đ1 (gửi đến tận nhà bà Liên thông Q đường bưu điện) và cho bà L, ông Đ1 thời hạn trong vòng 15 ngày để trả tiền và trao đổi cách trả tiền cho ông S, nếu tiếp tục im lặng ông S sẽ khởi kiện. Nhưng đến nay ông S vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ bà L, ông Đ1. Ông Nguyễn Văn S cho bà Nguyễn Thị L và ông Trình H u H vay tiền là gi a cá nhân của ng S với cá nhân bà L, ông H chứ kh ng có liên quan đến Công ty của ông S cũng kh ng phải cho Công ty của bà L vay.
Nay ông Nguyễn Văn S yêu cầu bà Nguyễn Thị L, ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 có trách nhiệm liên đới trả nợ vay cho ông S số tiền gốc là 11.940.899.000đ (Mười một tỷ chín trăm bốn mươi triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi tính từ ngày 08/10/2023 cho đến nay (ngày 07/5/2024), là 12%/năm là 07 tháng bằng 835.862.000đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi bà L, ông H, ông Đ1 và bà H1 trả hết nợ cho ng S.
Ông S không thừa nhận trong biên nhận ngày 20/9/2019 bà L có thanh toán 100.000.000đồng vì ch viết „TT 1.00‟ kh ng phải là nội dung thanh toán 100.000.000đồng và đây cũng kh ng phải là ch viết của ng S.
Ông S thừa nhận trong biên nhận ngày 04/11/2019 và biên nhận ngày 07/11/2019 do bà L viết thì ng có viết dòng ch „đóng lãi đến 8 tây‟. Đây chính là ch viết của ông S chứ không phải là „đầy đủ đến 8 tây‟ như bà liên trình bày. Vì trong thời gian từ khi vay đến ngày 08/11/2019 bà L không có trả cho ông S số tiền gốc nào là 4.888.000.000đồng như bà L trình bày.
Ông S kh ng thừa nhận trong biên nhận ngày 13/11/2019 do ng Trình H u H viết là tiền ng H và ông Trần Văn M nhận tiền huê hồng do ông S cho do bán được đất như bà L trình bày. Mà theo nội dung của biên nhận thì rõ ràng ng H ghi là có mượn của ông S số tiền 65.000.000đồng chứ không phải là ông H nhận tiền huê hồng của ông S.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Theo Th ng báo yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 34/TB-TA ngày 12/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự thì bà L kh ng cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm ngoài bản gốc Biên nhận (Hợp đồng vay vốn) ngày 10/9/2019. Qua xem xét các biên nhận nợ do ông Nguyễn Văn S cung cấp cho Toà án thì cá nhân bà Nguyễn Thị L thừa nhận có vay tiền của ng Nguyễn Văn S, tổng số tiền là 11.940.899.000đ (Mười một tỷ chín trăm bốn mươi triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng). Nhưng nội dung cụ thể như sau:
+ Lần 1: Ngày 16/09/2019 là 4.188.000.000đ (Bốn tỷ một trăm tám mươi tám triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 2: Ngày 20/09/2019 là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên nhưng phía dưới biên nhận ông S có ghi TT 1.00 là đã thanh toán xong 100.000.000đồng, bà L chỉ còn nợ lại ng S 300.000.000đồng;
+ Lần 3: Ngày 30/09/2019 là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 4: Ngày 04/11/2019 là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên nhưng bên trái của biên nhận ông S có ghi câu „đầy đủ đến 8 tây‟ nghĩa là ngày 08 tây tháng 11 năm 2019 ng S đã nhận đầy đủ tiền gốc và lãi là 4.888.000.000đồng của bà L. Nhưng bà L chưa có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này và cũng kh ng có biên nhận nào của ng S ký nhận là đã có nhận số tiền 4.888.000.000đồng như bà L trình bày;
+ Lần 5: Ngày 07/11/2019 là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) nhưng bên trái của biên nhận ông S có ghi câu „đóng lãi đến 8 tây‟ nghĩa là ngày 08 tây tháng 11 năm 2019 ng S đã nhận đầy đủ tiền lãi;
+ Lần 6: Ngày 13/11/2019 là 65.000.000đ (Sáu mươi lăm triệu đồng) là có, biên nhận do ông Trình H u H viết và ký tên ghi họ tên. Nhưng đây là tiền ông S cho tiền huê hồng cho ông H và ông Trần Văn M (địa chỉ: khóm B phường A, thành phố H, Đồng Tháp) khi bán được nền nhà chứ không phải là tiền ông S cho vay. Nhưng bà L chưa có chứng cứ chứng minh đây là phần tiền ông S cho tiền huê hồng cho ông H và ông M;
+ Lần 7: Ngày 28/11/2019 là 900.000.000đ (Chín trăm triệu đồng) là có, biên nhận do ông Trình H u H viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 8: Ngày 08/12/2019 là 337.000.000đ (Ba trăm ba mươi bảy triệu đồng), có trả được 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Còn lại 237.000.000đ (Hai trăm ba mươi bảy triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 9: Ngày 02/01/2020 là 2.543.000.000đ (Hai tỷ năm trăm bốn mươi ba triệu đồng) để đáo hạn Ngân hàng, là có, biên nhận do ông S viết, bà L ký tên ghi họ tên bà Nguyễn Thị L;
+ Lần 10: Ngày 28/01/2020 là 583.499.000đ (Năm trăm tám mươi ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 11: Ngày 02/04/2020 vay hai lần, lần đầu là 265.000.000đ (Hai trăm sáu mươi lăm triệu đồng) và lần hai là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Tổng hai lần là 305.000.000đ (Ba trăm lẻ năm triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 12: Ngày 01/05/2020 là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 13: Ngày 25/05/2020 là 2.069.400.000đ (Hai tỷ kh ng trăm sáu mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 14: Ngày 07/06/2020 là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên;
+ Lần 15: Ngày 13/08/2022 là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) là có, biên nhận do bà L viết và ký tên ghi họ tên. Bà L thừa nhận đây là phần ông S cho bà L khi bà L đi làm giấy tờ đất cho ông S nhưng ng S kêu bà ghi biên nhận thì nay bà cũng đồng ý nhận nợ với số tiền 40.000.000đồng này chứ không có liên quan đến ai khác.
Vào ngày 16/01/2024 bà Nguyễn Thị L thừa nhận có ký tên và ghi rõ họ tên đầy đủ vào tất cả các biên nhận nợ do ông Nguyễn Văn S cung cấp cho Toà án trong vụ án này (Bà L thừa nhận ch ký tên và ch ghi rõ họ tên trong tất cả các biên nhận nợ do ông Nguyễn Văn S cung cấp cho Toà án trong vụ án này đúng là ch ký tên và ch ghi họ tên của bà Nguyễn Thị L và ông Trình H u H). Bà tự nguyện thống nhất liên đới cùng với ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 trả nợ vay theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn S. Nhưng khi bà L về xem xét lại các biên nhận nợ do ông S cung cấp thì bà L thay đổi ý kiến vì bà L đã trả cho ng S 4.888.000.000đồng rồi nên nay bà L tự nguyện thống nhất liên đới cùng với ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 trả nợ vay cho ông Nguyễn Văn S số tiền gốc còn lại là 6.987.899.000đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 08/10/2023 cho đến khi Toà án giải quyết xong vụ án.
Đối với biên nhận ngày 20/9/2019, ông S có ghi „TT 1.00‟ biên nhận ngày 04/11/2019, ông S có ghi câu „đầy đủ đến 8 tây‟ và biên nhận ngày 07/11/2019, ông S có ghi câu „đóng lãi đến 8 tây‟ ng S đã thừa nhận đây chính là ch viết của ông S nhưng nội dung không phải bà L có thanh toán 100.000.000đồng và cũng kh ng phải là ông S có nhận tiền đầy đủ của bà L trả là 4.888.000.000đồng. Do đó bà L không yêu cầu giám định ch viết của ông Nguyễn Văn S đối với Ba biên nhận này mà bà L sẽ cung cấp chứng cứ cho Toà án về việc ông S có nhận tiền đầy đủ của bà L trả là 4.888.000.000đồng sau thời gian 15 ngày. Nếu hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoà giải (ngày 25/01/2024) mà bà L không cung cấp được cho Toà án chứng cứ này thì xem như bà L không có chứng cứ chứng minh cho việc bà L có trả cho ng S số tiền 4.888.000.000đồng như bà L trình bày.
Riêng đối với số tiền 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng) mà vợ chồng ông Nguyễn Văn S vay của bà L theo Biên nhận (Hợp đồng vay vốn) ngày 10/9/2019 và số tiền 559.101.000đ (Năm trăm năm mươi chín triệu một trăm lẻ một nghìn đồng) theo bà L trình bày đã chuyển dư cho ng S thì bà Nguyễn Thị L kh ng yêu cầu kh ng tranh chấp gì về số tiền trên với ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị Thu H3 (vợ ông S) trong vụ án này. Bà L không yêu cầu và không trình bày bổ sung gì thêm.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Trình Văn Đ1, ông Trình Hữu H và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 là bà Nguyễn Thị L trình bày: Ông Trình Văn Đ1, ông Trình H u H và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 tự nguyện thống nhất theo toàn bộ lời trình bày của bà Nguyễn Thị L trong vụ án này. Ông Trình Văn Đ1, ông Trình H u H và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 tự nguyện thống nhất liên đới cùng với bà Nguyễn Thị L trả nợ vay cho ông Nguyễn Văn S số tiền gốc còn lại là 6.987.899.000đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 08/10/2023 cho đến khi Toà án giải quyết xong vụ án. Ông Đ1, ông H, bà H1 không yêu cầu và kh ng trình bày bổ sung gì thêm.
Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Dương Văn N xác định: Đối với số tiền 400.000.000đồng là tiền của ông S cho bà L mượn chứ không phải của bà Bùi Thị Ngọc H2, giao dịch gi a ông S và bà H2 đã xong nên bà H2 kh ng có liên quan gì trong vụ án này; Còn số tiền 65.000.000đồng thì trong nội dung biên nhận ghi rõ là ông H u H mượn tiền của ông S chứ không phải là tiền huê hồng; Về trách nhiệm liên đới thì ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 biết việc bà Nguyễn Thị L và ông Trình H u H vay tiền của ng S vì mục đích sử dụng nguồn tiền vay là để đáo hạn nợ Ngân hàng và mua bán bất động sản, trong thời gian giao dịch và kể cả hiện tại bây giờ thì quan hệ hôn nhân gi a bà L, ông Đ1 và ông H, bà H1 vẫn còn tồn tại nên việc buộc ng Đ1, ông H, bà H1 chịu trách nhiệm liên đới để trả nợ cùng bà L là có cơ sở; Đối với số tiền 1.600.000.000đồng do bà L không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của bà L trong quá trình giải quyết vụ án nên phần này sẽ tách ra thành vụ án khác. Do đó ng S vẫn gi a y yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Lê Hữu Đ xác định: Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét lại đối với số tiền 400.000.000đồng trong biên nhận ngày 20/9/2019 là tiền bà L vay của bà Bùi Thị Ngọc H2 chứ kh ng phải vay của ng S; Còn số tiền 65.000.000đồng trong biên nhận ngày 13/11/2019 là ông S cho tiền huê hồng cho ng H u H chứ kh ng phải tiền vay; Về trách nhiệm liên đới thì ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 không biết việc bà Nguyễn Thị L và ông Trình H u H vay tiền của ng S, trong các biên nhận nợ thì có nhiều biên nhận ng H kh ng có ký tên mặc dù chưa có quyết định ly h n nhưng bà L và ông Đ1 ly thân nhau đã lâu, ông Đ1 đang sống với người phụ n khác nên ông Đ1, ông H, bà H1 kh ng phải chịu trách nhiệm liên đới để trả nợ cùng bà L; Đối với số tiền 1.600.000.000đồng trong biên nhận (Hợp đồng vay vốn) ngày 10/9/2019 thì yêu cầu Hội đồng xét xử cho tạm ngừng phiên toà để bà L làm thủ tục yêu cầu phản tố để khấu trừ vào số tiền mà bà L còn nợ lại ông S. Ông Đ xác định ngoài việc yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền 400.000.000đồng, số tiền 65.000.000đồng và khấu trừ 1.600.000.000đồng bằng 2.065.000.000đồng thì số tiền bà L còn nợ lại ng S là 9.875.899.000đồng. Bà L yêu cầu xin ng S không tính lãi vì hiện tại bà L đang gặp khó khăn về kinh tế. Ông Đ xác định ngoài các tài liệu, chứng cứ mà bà L đã cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án thì tại phiên toà h m nay bà L kh ng cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành Hồng Ngự phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 166 Điều 288 Điều 463 Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ng Nguyễn Văn S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà Tòa án nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ kiện tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản nên thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 là bà Nguyễn Thị L vắng mặt lần thứ hai kh ng có lý do. Người làm chứng ng Trần Văn M, bà Bùi Thị Ngọc H2 vắng mặt có đơn xin vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự này. Vì vậy căn cứ Điều 227 Điều 228 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành x t xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.
Về nội dung vụ án:
- X t yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S yêu cầu bà Nguyễn Thị L, ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 có trách nhiệm liên đới trả nợ vay cho ông S số tiền gốc là 11.940.899.000đ (Mười một tỷ chín trăm bốn mươi triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi tính từ ngày 08/10/2023 cho đến nay (ngày 07/5/2024) là 12%/năm là 07 (Bảy) tháng bằng 835.862.000đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi bà L, ông H, ông Đ1 và bà H1 trả hết nợ cho ông S. Hội đồng xét xử xét thấy:
Qua xem xét các biên nhận nợ do ông Nguyễn Văn S cung cấp cho Toà án thì cá nhân bà Nguyễn Thị L thừa nhận có vay tiền của ng Nguyễn Văn S, tổng số tiền là 11.940.899.000đ (Mười một tỷ chín trăm bốn mươi triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng). Do đó việc ông S có cho bà L vay tiền là có thật và chỉ với tư cách là cá nhân ông Nguyễn Văn S cho cá nhân bà Nguyễn Thị L và các thành viên gia đình bà L vay tiền chứ kh ng có liên quan gì đến C ng ty hay Tổ chức nào khác.
Bà L cho rằng đối với biên nhận ngày 20/9/2019, ông S có ghi „TT 1.00‟ là bà L có thanh toán trả cho ông S 100.000.000đồng biên nhận ngày 04/11/2019 ông S có ghi câu „đầy đủ đến 8 tây‟ và biên nhận ngày 07/11/2019, ông S có ghi câu „đóng lãi đến 8 tây‟ nghĩa là ông S có nhận tiền đầy đủ của bà L trả là 4.888.000.000đồng và số tiền 65.000.000đồng trong biên nhận ngày 13/11/2019 là số tiền ông S cho tiền huê hồng cho ông Trình H u H và ông Trần Văn M do bán được đất chứ không phải là số tiền ông Trình H u H mượn của của ông Nguyễn Văn S. Tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ng Lê H u Đ yêu cầu Hội đồng xét xử xem x t lại số tiền 400.000.000đồng trong biên nhận ngày 20/9/2019 là tiền bà L vay của bà Bùi Thị Ngọc H2 chứ kh ng phải vay của ng S; Còn số tiền 65.000.000đồng trong biên nhận ngày 13/11/2019 là ông S cho tiền huê hồng cho ông H u H chứ không phải tiền vay; Về trách nhiệm liên đới thì kh ng buộc trách nhiệm liên đới đối với ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 vì nh ng người này không biết việc bà Nguyễn Thị L vay tiền của ông Nguyễn Văn S. Nhưng bà L, ông Đ không cung cấp được chứng cứ chứng minh các nội dung trên mà ng bà đã trình bày. Vả lại ông Lê H u Đ kh ng được ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 uỷ quyền mà ông Đ yêu cầu xem xét lại trách nhiệm liên đới của nh ng người này là vượt quá phạm vi được uỷ quyền.
Đối với biên nhận ngày 16/9/2019 tổng số tiền 4.188.000.000đ gồm: Hưng 2 tỷ 900, ngoại thương 1 tỷ lẻ tám triệu, ngày 09/9/2019 - 280.000.000đ thì ông S cho rằng là ng chỉ ghi dấu ấn để dễ nhớ chứ tiền là của ông cho bà L mượn chứ kh ng có liên quan đến người khác. Bà L cũng thừa nhận biên nhận này là bà có vay tiền của ông S với số tiền 4.188.000.000đ chứ không có liên quan gì đến người khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Bùi Thị Ngọc H2 là người có tên trong biên nhận nợ ngày 20/9/2019 cho rằng: Số tiền 400.000.000đồng bà cho ông S mượn để ông S cho bà L mượn, sau vài ngày ông S đã trả cho bà H2 xong nên bà H2 kh ng yêu cầu kh ng tranh chấp gì trong vụ án này. Do đó xác định số tiền 400.000.000đồng trong biên nhận nợ ngày 20/9/2019 là bà L vay cuả ng S chứ kh ng phải bà L vay của bà H2.
Ông Nguyễn Văn M1 cho rằng trước đó ng S có cho ông tiền huê hồng vì giới thiệu cho ng S bán được đất nhưng số tiền bao nhiêu thì ng kh ng nhớ tiền huê hồng ng S giao cho ng hai lần lần đầu là ông S trực tiếp giao còn lần sau là do ông Trình H u H giao vì thời gian này ng S, bà L, ông H làm ăn chung với nhau. Khi giao tiền là giao tiền mặt chứ không có làm giấy tờ gì. Riêng đối với số tiền 65.000.000đồng trong biên nhận ngày 13/11/2019 là ng chưa từng thấy biên nhận cũng kh ng biết số tiền gì. Việc tranh chấp gi a ng S và bà L như thế nào thì ng kh ng rõ. Ông kh ng yêu cầu kh ng tranh chấp gì trong vụ án này. Nhưng theo nội dung biên nhận ngày 13/11/2019 thì có ghi rõ ràng là: “T i Trình H u H có mượn chú sáu Sép tổng là: 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng). Ký tên và ghi họ tên ng Trình H u H”. Như vậy số tiền 65.000.000đồng trong biên nhận ngày 13/11/2019 là số tiền ông H mượn ông S chứ không phải số tiền huê hồng ông S cho ông H như bà L trình bày.
Riêng đối với số tiền 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng) mà bà L cho rằng vợ chồng ông Nguyễn Văn S vay của bà L theo Biên nhận (Hợp đồng vay vốn) ngày 10/9/2019 và số tiền 559.101.000đ (Năm trăm năm mươi chín triệu một trăm lẻ một nghìn đồng) theo bà L trình bày đã chuyển dư cho ng S thì bà Nguyễn Thị L kh ng yêu cầu kh ng tranh chấp gì về số tiền trên với ng Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị Thu H3 (vợ ông S) trong vụ án này. Tại phiên toà, ông Đ yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để bà L thực hiện thủ tục phản tố để yêu cầu khấu trừ 1.600.000.000đồng này vào số tiền bà L còn nợ ng S là không có căn cứ. Bỡi lẽ, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã Thông báo cho bà L bằng Th ng báo số 34/TB-CCTLCC ngày 12/12/2023 về việc yêu cầu bà L thực hiện quyền và nghĩa vụ của bà L về yêu cầu phản tố. Nhưng tại Bản tự khai ngày 16/01/2024 của bà Nguyễn Thị L thì bà L khai: Theo Thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 34 ngày 12/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự thì bà chỉ cung cấp cho Toà án Biên nhận (Hợp đồng vay vốn) ngày 10/9/2019 (Bản gốc). Ngoài ra, bà không còn tài liệu chứng cứ nào để cung cấp cho Toà án. Đối với số tiền 1.600.000.000đồng mà ng S có ghi biên nhận cho bà và số tiền 559.101.000đồng mà bà L trình bày là có trả dư cho ng S thì bà kh ng có yêu cầu hoặc tranh chấp gì với ng Nguyễn Văn S về số tiền trên. Riêng đối với tất cả các biên nhận mà ông S cung cấp để yêu cầu khởi kiện đòi bà số tiền 11.940.899.000đồng thì bà thừa nhận là có ký tên và ghi họ tên của bà và con bà (Trình H u H) trong các biên nhận trên. Bà thừa nhận có nợ ng S số tiền 11.940.899.000đồng và đồng ý liên đới cùng ông H trả số tiền trên (Bút lục 77). Do đó bà L không có yêu cầu phản tố gì trong vụ án này. Nếu sau này bà L có khởi kiện thì sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Trong tất cả các biên nhận nợ thì chồng bà L là ông Trình Văn Đ1 và vợ ông H là bà Huỳnh Thị Ngọc H1 không có ký biên nhận nợ nhưng thời điểm này thì bà L và ông Đ1 vẫn còn tồn tại quan hệ vợ chồng ng H và bà H1 vẫn còn tồn tại quan hệ vợ chồng và thời điểm này là bà L, ông H làm ăn chung với nhau. Kể cả khi bà L có ý kiến đại diện theo uỷ quyền của ông H, ông Đ1, bà H1 thì bà L cũng trình bày là ng Đ1, ông H, bà H1 cùng thống nhất có nghĩa vụ liên đới với bà L để trả nợ cho ông S số tiền còn lại. Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật H n nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng thì vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây: Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó xác định trách nhiệm liên đới là có căn cứ theo quy định tại Điều 37 Luật H n nhân và gia đình.
Về phần lãi suất: Phía bà L yêu cầu xin ng S kh ng tính lãi vì hiện tại bà L đang gặp khó khăn về kinh tế. Nhưng phía ng S không thống nhất mà vẫn gi y yêu cầu phía bà L phải trả tiền lãi cho ông S. Do đó phía bà L phải trả tiền lãi theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Từ nh ng nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy buộc bà Nguyễn Thị L, ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 trả cho ng Nguyễn Văn S số tiền gốc 11.940.899.000đ (Mười một tỷ chín trăm bốn mươi triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi tính từ ngày 08/10/2023 cho đến nay (ngày 07/5/2024) là 12%/năm là 07 (Bảy) tháng bằng 835.862.000đồng. Tổng cộng là 12.776.761.000đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi bà L, ông H, ông Đ1 và bà H1 trả hết nợ cho ng S là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
- X t đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự là có căn cứ như nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với quy định pháp luật.
- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ng Nguyễn Văn S được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị L, ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1, bà Huỳnh Thị Ngọc H1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn S thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
UYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 166, Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật H n nhân và gia đình; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91 Điều 92 Điều 93 Điều 147, Điều 227 Điều 228 Điều 229 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S.
Buộc bà Nguyễn Thị L, ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 có trách nhiệm liên đới trả cho ng Nguyễn Văn S số tiền vay gốc 11.940.899.000đ (Mười một tỷ chín trăm bốn mươi triệu tám trăm chín mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi tính từ ngày 08/10/2023 cho đến nay (ngày 07/5/2024) là 12%/năm là 07 (Bảy) tháng bằng 835.862.000đ (T trăm ba mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng). Tổng cộng là 12.776.761.000đ (Mười hai tỷ bảy trăm bảy mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) và tiếp tục tính lãi cho đến khi bà Nguyễn Thị L, ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 trả hết nợ cho ng Nguyễn Văn S.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
- Buộc bà Nguyễn Thị L, ông Trình H u H, ông Trình Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị Ngọc H1 có trách nhiệm liên đới chịu 120.777.000đ (làm tròn một trăm hai mươi triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Văn S thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định pháp luật.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 Điều 7 Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND TP. Hồng Ngự; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỔNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Phương Thảo |