vanban.org

Bản án 13/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trương Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trương Đình T (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 12 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án xét xử bị cáo Trương Đinh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HSST
Ngày: 27 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hành và ông Đỗ Cao Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuỷ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình. Tòa án án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 10/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXX-ST, ngày 14 tháng 3 năm 2023, đối với:

Bị cáo Trương Đình T, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1995 tại H, Q, Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trương Đình T và bà Trương Thị M; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 12 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Về nhân thân: Ngày 29/02/2011, bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính phạt tiền 500.000 đồng về hành vi đánh nhau. Ngày 02/12/2013, bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính phạt cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng. Ngày 20/01/2014, bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phùng Xuân P, sinh năm 1983; nghề nghiệp: Lái xe; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt;

- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992; nghề nghiệp: Xây dựng; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 40 phút ngày 16/12/2022, tại đoạn đường liên xã X đi xã Hh thuộc địa phận thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện Quảng Ninh phối hợp với Công an xã X tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, phát hiện Trương Đình T điều khiển xe mô tô BKS: 73B1-138.61 không đội mũ bảo hiểm nên tổ công tác tiến hành đón dừng kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong túi quần phía trước bên trái của Trương Đình T có 01 (một) mảnh nilon màu đen bên trong có 01 (một) mảnh nilon trong suốt chứa 48 (bốn mươi tám) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng. Trương Đình T khai nhận số viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng trên là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến của Trương Đình T cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Đình T, thu giữ, niêm phong những vật liên quan.

Vào hồi 12 giờ 00 phút cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Đình T tại thôn Nn, xã H, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh phát hiện và thu giữ 03 (ba) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng tại góc giường bên trái giường ngủ của Trương Đình T bên cạnh phòng thờ. Trương Đình T trình bày 03 (ba) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng này là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến T cất giấu để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 15/KL-KTHS ngày 22-12-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu ký hiệu A1 (48 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY”) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 4,436g (bốn phẩy bốn trăm ba mươi sáu gam). Mẫu ký hiệu A2 (03 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY”) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,284g (không phẩy hai trăm tám mươi bốn gam) nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Về vật chứng vụ án: Ngày 16 tháng 12 năm 2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, mang BKS: 73B1-138.61, số máy: CT100E1384831, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKS-MT, ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trương Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trương Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Trương Đình T đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamin, số lượng 51 viên, khối lượng 4,72g (bốn phẩy bảy mươi hai gam). Cáo trạng truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trương Đình T mức án từ 36 đến 42 tháng tù; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định; trả lại xe mô tô BKS: 73B1-138.61 cho anh Phùng Xuân P là chủ sở hữu.

Bị cáo Trương Đình T nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, có điều kiện giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo thống nhất, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 10 giờ 40 phút ngày 16/12/2022, Trương Đình T tàng trữ bên trong túi quần phía trước bên trái 48 (bốn mươi tám) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và tại góc giường bên trái giường ngủ của Trương Đình T bên cạnh phòng thờ 03 (ba) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng; tổng cộng 51 viên, khối lượng 4,72g (bốn phẩy bảy mươi hai gam) là ma tuý loại Methamphetamine do Trương Đình T mua về cất giấu mục đích để sử dụng. Hành vi của Trương Đình T thuộc lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo biết ma túy là loại chất gây nghiện có nguy cơ gây hại rất lớn cho xã hội, Nhà nước cấm sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố tình cất giấu để sử dụng. Mặt khác, nhân thân bị cáo xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính chất vụ án, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội và các tệ nạn xã hội khác.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không tình tiết tăng nặng. Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy phải cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, tu dưỡng, sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo Trương Đình T khai nhận đã mua số ma tuý trên từ một nam thanh niên không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực địa đạo V thuộc xã L; Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả, do vậy không có căn cứ để xem xét, xử lý đối tượng bán ma tuý cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Khối lượng chất ma túy thu giữ trong vụ án sau khi giám định còn lại 4,292g (bốn phẩy hai trăn chín mươi hai gam) và 0,186 (không phẩy một trăm tám mươi sáu gam) là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với xe mô tô BKS: 73B1-138.61, bị cáo sử dụng là của anh Phùng Xuân P giao cho bị cáo để chủ động trong việc đi lại lái xe thuê cho anh P. Anh Ph không biết việc T liên quan đến ma túy nên cần trả lại cho anh P theo điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trương Đình T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trương Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Đình T (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 12 năm 2022.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 4,292g (bốn phẩy hai trăm chín mươi hai gam) mẫu ký hiệu A1; 0,186g (không phẩy một trăm tám mươi sáu gam) mẫu ký hiệu A2 và toàn bộ bao gói được hoàn trả lại sau giám định đựng trong một phong bì thư dán kín trên ghi nội dung “15/KL-KTHS”; trả lại cho anh Phùng Xuân P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, mang BKS: 73B1-138.61, số máy: CT100E1384831, xe đã qua sử dụng. Tất cả vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 23 tháng 02 năm 2023.

3. Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Trương Đình T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ