vanban.org

Bản án 13/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 07/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thế T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là 0,167g, loại Heroin được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HÓA
Bản án số:13/2023/HSST
Ngày: 07-4 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"gồm"có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Lê Thị Tố Như

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Bà Trịnh Thị Bình

Ông Nguyễn Văn Long

- Thư"ký"phiên"toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn.

- Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Đông"Sơn"tham"gia"phiên" toà: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/HSST ngày 03/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/QĐXXST-HS ngày 23/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ THẾ T, sinh năm 1993; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn VK, xã ĐK, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông: Lê Thế Đ và bà Lê Thị T. Bị cáo chưa có vợ; Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: Ngày 16/8/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Ngày 16/11/2022 Thường đã chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/5/2014 Lê Thế Thường bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn xử phạt 42 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 08/9/2016 đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2023 đến ngày 17/01/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 11/01/2023, thực hiện việc gọi hỏi, giáo dục, cam kết để đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, tổ công tác Công an xã Đông Khê phối hợp cùng Công an huyện Đông Sơn đã đến nhà Lê Thế T là người vừa chấp hành xong hình phạt tù về địa phương. Khi đến nhà, T đang ở nhà một mình. Quá trình làm việc, Tổ công tác đã phát hiện ở trên giường của T có một bao thuốc lá Thăng Long, trên bao thuốc có một gói giấy bạc trong có gói giấy chứa một cục chất bột màu trắng nghi là ma túy. T thừa nhận đây là ma túy của T để ở giường khi cần thì lấy sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời tạm giữ, niêm phong vật chứng.

Tại Bản kết luận giám định số 420/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận:

- Cục chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,211 g (không phấy hai một một gam) loại: Heroine

Quá trình điều tra, Lê Thế T khai nhận: Số ma tuý T bị thu giữ tại nhà là của T mua vào ngày 08/01/2023 của một người nam giới không biết tên địa chỉ tại mặt bằng Đồng Vèn, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá với giá 500.000 nghìn đồng. Sau khi mua ma tuý xong T mang về cắt một ít ra sử dụng, còn lại T dùng tờ giấy bạc bọc và cho vào bao thuốc lá để ở đầu giường để nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an bắt giữ.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,167g ma tuý, loại Heroin; đây là mẫu vật còn lại sau giám định do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành được dán kín, niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2023/12 ngày 01/3/2023 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKS-ĐS ngày 02/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn đã truy tố bị cáo Lê Thế T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về phần hình sự: Đề nghị tuyên bị cáo Lê Thế T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS đề nghị:

Xử phạt: Bị cáo Lê Thế T mức hình phạt từ 24 (hai mươi tư) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hình phạt tù tính từ ngày 11/01/2023.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 đề nghị: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo Lê Thế T đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến nào hoặc khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2]. Tại phiên tòa hôm nay qua thẩm vấn công khai bị cáo Lê Thế T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do nghiện hút ma túy nên Lê Thế T đã đến mặt bằng Đồng Vèn, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá mua ma tuý để sử dụng cho bản thân, sau khi mua ma tuý về nhà, T đã cắt ra sử dụng một ít, số ma tuý còn lại T gói vào tờ giấy bạc bỏ vào bao thuốc lá để trên giường để sử dụng dần. Đến khoảng 09 giờ ngày 11 tháng 01 năm 2023 thì bị Công an huyện Đông Sơn phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ gói ma túy có khối lượng 0,211g (không phấy hai một một gam) loại: Heroin.

Hành vi nên trên của Lê Thế T đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn truy tố bị cáo Lê Thế Thường theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy:

Ma túy là một hiểm họa đối với toàn xã hội và mỗi gia đình. Hiện nay nhà nước ta đang kiên quyết chống tệ nạn này. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm đến pháp luật hình sự và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác này do vậy cần phải được xử lý nghiêm khắc.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo có tuổi đời còn trẻ nhưng lười lao động và có nhân thân xấu: Ngày 16/8/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Ngày 16/11/2022 T đã chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/5/2014 Lê Thế T bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn xử phạt 42 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 08/9/2016 đã chấp hành xong bản án nhưng bị cáo không coi đó là bài học để sửa chữa lỗi lầm. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hơn nữa do tính chất nghiêm trọng của vụ án nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do có 01 tiền án về tội: Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới nên bị áp dụng tình tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo Lê Thế T có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[7] Về vật chứng vụ án: Toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định là 0,167g, loại Heroin lưu giữ trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được niêm phong dán kín được thu giữ và quản lý theo phiếu nhập kho số NK 2023/12 ngày 01/3/2023 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Liên quan trong vụ án: Đối với người nam giới tại mặt bằng Đồng Vèn, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã bán ma túy cho Lê Thế T. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

[9]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] . Bị cáo được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293; Các Điều 331; 333; 336; 337 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016.

2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thế T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

3. Xử phạt: Bị cáo Lê Thế T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2023.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là 0,167g, loại Heroin được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, đã dán kín, niêm phong.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số NK 2023/12 ngày 01/3/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn)."

5.Về án phí: Buộc Lê Thế T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ