- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN NGỌC TỨ - CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày 02 tháng 3 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA
- TH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Huy Toàn
Bà Nguyễn Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Kim Kúc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa:Ông Triệu Hoàng Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 đến ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2022/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/HSST-QĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979, tại: NH, KH; Nơi cư trú: Thôn 3, xã KJ, huyện MĐ, tỉnh ĐL; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc T (chết) và bà Nguyễn Thị C; Vợ Nguyễn Thị G (đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại NH1 tạm giữ Công an thị xã NH.
* Bị hại: Ông Huỳnh H, sinh năm 1972
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị H1, sinh năm 1983
Nơi cư trú: Thôn TS, xã NX, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
* Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Ngọc Vh, sinh năm 1971
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1971
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1991
Nơi cư trú: Thôn PL, xã NX, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1955
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Ông Trần Văn Đ, sinh năm: 1986
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Ông Đặng Văn Nh, sinh năm: 1983
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1982
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Ông Đỗ TH1nh Đ, sinh năm: 1985
Nơi cư trú: Thôn TS, xã NX, thị xã NH, tỉnh KH; vắng mặt.
+ Bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm: 1981
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm: 1996
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1993
Nơi cư trú: Thôn CL, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1961
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
+ Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm: 1963
Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm: 1981
Nơi cư trú: Thôn ĐM, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; vắng mặt.
* Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1955 (là mẹ ruột của bị cáo); Nơi cư trú: Thôn LB, xã NT, thị xã NH, tỉnh KH; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: Ông Đào Thanh T, Luật sư Công ty luật TNHH T&D thuộc Đoàn luật sư tỉnh KH; địa chỉ: số 35 TH, thành phố NT, tỉnh KH; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 17 tháng 5 năm 2013, ông Trần Văn Đ đến nH1 bà Nguyễn Thị C ở thôn TP (trước đây là thôn LB), xã NT, thị xã NH để tìm bò đi lạc. Lúc này, ông Đặng Văn Nh, ông Huỳnh H cũng vào nhà bà C chơi. Tại đây, giữa ông Đ, Nh, H xảy ra mâu thuẫn với con trai bà C là Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Ngọc T và con rể bà C là Nguyễn Văn L, sau đó hai bên rượt đuổi đánh nhau thì T cầm một đoạn gỗ (cây Bạch Đàn) kích thước 04cm x 02m dùng để chèn cửa đánh trúng 01 cái vào chân ông H gây thương tích, còn S bị thương tích ở vùng đầu nhưng không xác định người gây ra.
Một lúc sau, ông Nguyễn Đ là người quen của ông H nhận được tin ông H bị đánh thì đến nhà bà C đưa ông H về nhưng bị gia đình bà C ngăn cản để chờ Công an đến giải quyết, ông Đ đi báo Trưởng thôn biết nội dung vụ việc và sau đó cùng nhiều người khác đến nhà bà C thì xảy ra xô xát với T, L, em của T là Nguyễn Ngọc V. Trong lúc đánh nhau tại khu vực đường vào nhà bà C (vị trí không có ánh sáng) thì ông Đ bị người không xác định gây thương vùng lưng, sau đó ông Đ được gia đình đưa đi cấp cứu nên hai bên giải tán.
Tại bản kết luận định giám định pháp y về thương tích số 31-Th.T/PY ngày 05 tháng 3 năm 2014; số 87-Th.T/PY ngày 16 tháng 4 năm 2014; số 66/Th.T/PY ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Trung tâm pháp y sở y tế Khánh Hòa kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Huỳnh H là 15%, Nguyễn Đ là 16% và Nguyễn Ngọc S là 02%.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tâm thần số 33/KLGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận trước khi bị chấn thương sọ não do tai nạn giao thông ngày 18/8/2016, Nguyễn Ngọc T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Sau khi bị chấn thương sọ não do tai nạn giao thông ngày 18/8/2016, Nguyễn Ngọc T hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển H1nh vi.
Qúa trình điều tra, Nguyễn Ngọc T khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội T bị bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Vật chứng vụ án: 02 đoạn tre đường kính 05cm, dài 02m; 01 đoạn gỗ (cây Bạch Đàn) đường kính 04cm, dài 02m.
Phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng, bị hại ông Huỳnh H yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường tổng số tiền 40.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKS-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa giữ nguyên Cáo trạng số 68/CT-VKS-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Ngọc T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 10 năm 2021 cho đến nay.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) đoạn tre đường kính 05cm, dài 02m; 01 (một) đoạn gỗ cây bạch đàn đường kính 04cm, dài 02m không còn giá trị sử dụng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa với Chi cục Thi H1nh án dân sự thị xã Ninh Hòa ngày 15 tháng 02 năm 2023.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: thống nhất về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai; Ăn năn, hối cải; Đã khắc phục một phần hậu quả; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Hiện tại bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi do tai nạn giao thông nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam của bị cáo.
- Bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận hành vi dùng cầm một đoạn gỗ (cây Bạch Đàn) kích thước 04cm x 02m dùng để chèn cửa đánh trúng 01 cái vào chân ông H gây thương tích; bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại Huỳnh H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1 không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Người làm chứng Đỗ Thành Đ, Nguyễn Thị Ngọc Q, Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Văn Tr vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại hồ sơ và không ảnh đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về tính hợp pháp của tài liệu, chứng cứ: Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.
[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Ninh Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về H1nh vi, quyết định của Cơ quan tiến H1nh tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Về hành vi cấu hành tội phạm: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp lời khai của bị hại, những người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với vật chứng thu được của vụ án, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 31-Th.T/PY, ngày 05 tháng 3 năm 2014 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 17 tháng 5 năm 2013, ông Trần Văn Đ đến nhà bà Nguyễn Thị C ở thôn tp (trước đây là thôn lb), xã nt, thị xã nh để tìm bò đi lạc. Lúc này, ông Đặng Văn Nh, ông Huỳnh H cũng vào nhà bà C chơi. Tại đây, giữa ông Đ, Nhi, H xảy ra mâu thuẫn với con trai bà C là Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Ngọc T và con rể bà C là Nguyễn Văn L, sau đó hai bên rượt đuổi đánh nhau thì T cầm một đoạn gỗ (cây Bạch Đàn) kích thước 04cm x 02m dùng để chèn cửa đánh trúng 01 cái vào chân ông H gây thương tích. Hành vi cầm một đoạn gỗ (cây Bạch Đàn) kích thước 04cm x 02m dùng để chèn cửa đánh trúng 01 cái vào chân ông H gây thương tích, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể 15% của bị cáo Nguyễn Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.
[5] Về tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của con người là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng trừng trị, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa, răn đe chung cho xã hội. Do đó, Cáo trạng số 68/CT-VKS-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp định khung hình phạt “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến dưới 30%” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự, là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội bồi thường thiệt hại; Được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Sau khi thực hiện hành vi phạm tôi, bị cáo bị chấn thương sọ não do tai nạn giao thông ngày 18/8/2016 dẫn đến bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị hại là ông Huỳnh H yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, bao gồm: Chi phí khám, chữa bệnh; Chi phí thuê phương tiện đi lại; Thu nhập thực tế bị mất của bị hại và người chăm sóc; Bồi thường tổn thất tinh thần là những chi phí hợp lý và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng tạm giữ gồm: 02 (hai) đoạn tre đường kính 05cm, dài 02m; 01 (một) đoạn gỗ cây bạch đàn đường kính 04cm, dài 02m theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã NH ngày 15 tháng 02 năm 2023 không còn giá trị, không sử dụng được nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc S bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%, nhưng qua điều tra không xác định được người và vật gây thương tích nên không có căn cứ để xử lý. Đối với ông Nguyễn Đời bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%, qua điều tra chưa xác định được người gây ra nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa đã Quyết định tách vụ án hình sự số 01/QĐ-CSHS ngày 25 tháng 7 năm 2022 để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự,
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 20 tháng 10 năm 2021.
2/ Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải bồi thường cho bị hại Huỳnh H 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Quy định: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại Huỳnh H có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Nguyễn Ngọc T chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) đoạn tre đường kính 05cm, dài 02m; 01 (một) đoạn gỗ cây bạch đàn đường kính 04cm, dài 02m không còn giá trị sử dụng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa ngày 15 tháng 02 năm 2023.
4/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bịcáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KH; - VKSND tỉnh KH; - VKSND thị xã NH; - CQ CSĐT Công an thị xã NH; - CQ THAHS Công an thị xã NH; - Chi cục THADS thị xã NH; - Sở Tư pháp tỉnh KH; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Trung |