- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày: 28-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đang;
2. Bà Trần Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Hồng Chiên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V (tên gọi khác: không), sinh ngày 28/9/2000, tại huyện Th, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: thôn V, xã Th, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T, vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2022 đến ngày 27/12/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn V, xã Th, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt).
- Người làm chứng: ông Lê Hữu S. (vắng mặt)
- Người chứng kiến: ông Phạm Văn T1. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 19/12/2022, Công an thành phố Tam Điệp tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường Bắc Sơn. Khi đến cổng Trung tâm y tế thành phố Tam Điệp thuộc tổ 13, phường Bắc Sơn thì phát hiện một nam thanh niên đứng cạnh xe mô tô BKS 36G5-326.99 đang dựng trên đường. Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra giấy tờ tùy thân của người thanh niên này, nhưng người này không xuất trình được giấy tờ gì và khai tên là Nguyễn Văn V. Khi được hỏi có sử dụng ma túy, V tự giác khai nhận là người sử dụng ma túy và mở cốp xe mô tô lấy ra 01 chiếc ví da màu đen, sau đó lấy từ ngăn đầu tiên trong ví da 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận gói nhỏ đó là Heroine V mang theo để sử dụng. Tại chỗ tổ công tác mở gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, sau khi kiểm tra, tổ công tác tiến hành thu giữ và niêm phong gói nhỏ giấy bạc. Sau đó đưa Nguyễn Văn V cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở công an phường Bắc Sơn làm việc.
Tại trụ sở Công an thành phố Tam Điệp tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn V và kí hiệu M gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 31/KL-KTHS-MT ngày 26/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2568 gam, là ma túy, loại Heroine (Heroin). Heroine (Heroin) là chất ma túy thuộc Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSTĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn V và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 17 tháng tù đến 19 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 19/12/2022.
+ Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm: 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, kích thước (5x5,5)cm; 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi số: 31/KL-KTHS-MT, vụ Nguyễn Văn V, sinh năm 2000, xảy ra ngày 19/12/2022 tại phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, mẫu vật hoàn trả gồm M= 0,1828 gam là ma túy loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tâm trình bày chiếc xe mô tô BKS 36G5-326.99 màu đỏ, đen, bạc là của bà; việc Vượng sử dụng xe đi mua ma túy bà không biết. Đến nay, bà đã nhận lại chiếc xe mô tô BKS 36G5-326.99 và không có ý kiến, đề nghị gì.
Người làm chứng ông Lê Hữu S trình bày: khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 19/12/2022, ông thấy công an đến yêu cầu kiểm tra hành chính đối với V đang đứng một mình cạnh xe mô tô dựng ở lòng đường, V không xuất trình được giấy tờ gì và khai nhận tên tuổi đồng thời tự lấy 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng để trong ngăn đầu tiên của ví da để ở cốp xe ra giao nộp cho Công an. V khai nhận là gói giấy đó là Heroine. Diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu.
Người chứng kiến ông Phạm Văn C trình bày: khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 19/12/2022, ông được Công an thành phố Tam Điệp mời ra chứng kiến việc Công an tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Văn V. Diễn biến sự việc như cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khẳng định bản thân bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL11-BL14), Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại (BL33), Kết luận giám định số 31/KLGĐ-PC09-MT ngày 26/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (BL40) và các tang vật, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: ngày 19/12/2022, tại tổ 13, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, bị cáo Nguyễn Văn V có hành vi tàng trữ 0,2568 gam ma tuý loại Heroine để sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ 0,2568 gam ma tuý loại Heroine trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép và cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Trực tiếp là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA. XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo; bà Trương Thị M là bà ngoại của bị cáo được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và được chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa tặng Bằng khen. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật.
Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khối lượng chất ma tuý bị cáo tàng trữ, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, có như vậy mới có tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, BKS 36G5-326.99, qua điều tra xác định chiếc xe mô tô là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ của bị cáo V). Việc bị cáo V sử dụng xe mô tô đi mua ma túy, bà T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho bà Nguyễn Thị T là đúng quy định của pháp luật.
Đối với các vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp. Trong đó, số ma túy là vật cấm tàng trữ, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc ma túy: bị cáo khai nhận ngày 19/12/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo mua của một người không quen biết ở khu vực cầu Thủng thuộc xã Yên Sơn, thành phố Tam Điệp nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/12/2022.
2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, kích thước (5x5,5)cm;
- 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi số: 31/KL-KTHS-MT, vụ Nguyễn Văn V, sinh năm 2000, xảy ra ngày 19/12/2022 tại phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, mẫu vật hoàn trả gồm M= 0,1828 gam là ma túy loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;
- 01 ví da màu đen đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06/3/2023 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)
3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/3/2023.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Bích Hồng |