vanban.org

Bản án 13/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cháng A D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 2Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu bị cáo Cháng A D số tiền 100.000 đồng sung ngân sách Nhà nước. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cháng A D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cháng A D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HS-ST
Ngày 11 – 4 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Lụa và ông Nguyễn Đăng Hưng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Cháng A D, sinh năm 1969, tại tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Đ, xã N, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; giới tính: Nam; dân tộc: H’Mông; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cháng A L và bà Giàng Thị S (Đều đã chết); bị cáo có vợ Hờ Thị K, sinh năm 1972 và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2022 đến nay - Có mặt.

Người làm chứng: Anh Trần Văn T, sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn 1, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 28/10/2022, Trần Văn T đến nhà Cháng A D, tại Bản Đ, xã N, huyện T, tỉnh Đắk Nông hỏi mua ma túy, Cháng A D đồng ý và nói T đưa tiền để D đi lấy ma túy. T đưa cho D 300.000 đồng, D cầm tiền đi bộ đến quán tạp hóa gần nhà gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân) để mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, người đàn ông đưa cho D 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy. Sau đó, D cầm gói ma túy mang về nhà chuẩn bị giao cho T thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức phát hiện và bắt quả tang thu giữ 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất rắn màu trắng và số tiền 100.000 đồng trên người Cháng A D.

Tại bản kết luận giám định 288/KL-KTHS ngày 01/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy màu trắng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0389 gam, là Heroin (Heroine). Mẫu chất rắn màu trắng trong bì thư đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS-TĐ ngày 13/02/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đã truy tố bị cáo Cháng A D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cháng A D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự , xử phạt bị cáo Cháng A D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2022. Không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Sung ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.

Đối với khối lượng 0, 0389 gam ma túy, là Heroine đã sử dụng hết cho công tác giám định nên không đề cập xử lý.

Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã công bố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 08 giờ ngày 28/10/2022, tại Bản Đ, xã N, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Cháng A D đang có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy cho anh Trần Văn T với số tiền 300.000 đồng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức phát hiện và bắt quả tang. Theo bản giám định số 288/KL-KTHS ngày 01/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy màu trắng được niêm phong trong bì thư gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0389 gam, là Heroin (Heroine). Như vậy hành vi của Cháng A D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…”

. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Cháng A D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên mức hình phạt Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức đề nghị là cao so với hành vi phạm tội của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức mới phù hợp.

. Xét hành vi do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển được mọi hành vi của bản thân trong cuộc sống, bị cáo phải biết viê ̣c mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Do vậy, cần xử pha ̣t bi ̣ cáo mứ c án nghiêm, tương xứ ng vớ i tính chất, mứ c đô ̣ hành vi củ a bi ̣ cáo đa gây ra. Đỗ

̀ng thờ i, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới bảo đảm được mục đích của hình phạt.

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo người dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Việc xử lý vật chứng:

Đối với khối lượng 0,0389 gam ma túy, là Heroine đã sử dụng hết cho công tác giám định nên không đề cập xử lý.

Đối với 100.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên HĐXX xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Đối với Trần Văn T là người mua ma túy của Cháng A D để sử dụng. Tuy nhiên, khi bị phát hiện, bắt quả tang anh T chưa nhận được ma túy nên không có căn cứ để xử lý T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện Tuy Đức, để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

. Đối với người đàn ông (không xác định nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho Cháng A D, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức tách ra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Cháng A D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cháng A D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ ngày 28/10/2022.

2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 2Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu bị cáo Cháng A D số tiền 100.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Cháng A D phải chịu 200.000 đồ ng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

Cỡ chữ