- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn P - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày 22- 02 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn; Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vi Thu Hằng;
2. Bà Lò Thị Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 19/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 09/02/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn P - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/6/1990, tại huyện SH, tỉnh Lai Châu; Nơi đăng ký thường trú: Bản PH, xã NH, huyện SH, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Kháng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Con ông Quàng Văn L (đã chết) và bà Lò Thị Đ, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Chưa có; Từ năm 2005 cho đến nay sống chung như vợ chồng với Quàng Thị Nh, sinh năm 1991; bị cáo 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án: không; Tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị khởi tố, điều tra, truy tố chờ xét xử tại huyện SH, tỉnh Lai Châu về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/10/2022, sau đó bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Điện Biên cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Quàng Thị Nh - sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản PH, xã NH, huyện SH, tỉnh Lai Châu - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[[
Vào hồi 23 giờ 50 phút, ngày 21/10/2022, tổ Công tác thuộc Công an huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên phối hợp với phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Huổi Trẳng, xã Tủa Thàng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên thì phát hiện có một người đàn ông đang điều khiển xe máy, biển kiểm soát 28H1 – 456.17 đi từ hướng Xá Nhè đến bến thuyền trên Sông Đà thuộc Thôn Huổi Trẳng, xã Tủa Thàng, huyện Tủa Chùa có biểu hiện nghi vấn vận chuyển trái phép chất ma túy, tổ công tác ra tín hiệu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra người đàn ông khai nhận tên là Quàng Văn P, sinh năm 1990. Trú tại bản Pá Hăn, xã Năm Hăn, huyện SH, tỉnh Lai Châu, kiểm tra trên người P, tổ công tác phát hiện bên trong túi quần bên phải P đang mặc có một túi nilon màu trắng, bên trong có một chiếc tất tay trẻ em màu trắng, bên trong chiếc tất có chứa 04 gói nilon màu xanh, bên trong 04 gói có chứa các cục chất bột màu trắng thể rắn nghi là Heroine và 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu hồng bên trong có chứa 08 gói nhỏ có đặc điểm như sau: Gói thứ nhất được gói bằng mảnh giấy nilon màu xanh dương bên trong có 15 viên nén màu hồng, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY nghi là ma tuý tổng hợp; gói thứ hai được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu xanh dương bên trong có 10 viên nén thể rắn màu hồng, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY nghi là ma tuý tổng hợp; gói thứ ba được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu xanh dương bên trong có 01 viên nén thể rắn màu hồng, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY nghi là ma tuý tổng hợp và các cục chất bột mầu trắng thể rắn nghi là Heroine; gói thứ tư được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu xanh lá cây bên trong có 10 viên nén thể rắn màu hồng, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY nghi là ma tuý tổng hợp và các cục chất bột màu trắng thể rắn nghi là Heroine; gói thứ năm được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu xanh lá cây bên trong có 02 viên nén thể rắn màu hồng, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY nghi là ma tuý tổng hợp và các cục chất bột màu trắng thể rắn nghi là Heroine; gói thứ sáu được được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu hồng bên trong có 08 viên nén thể rắn màu hồng, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY nghi là ma tuý tổng hợp và 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng bên trong có các cục chất bột màu trắng thể rắn nghi là Heroine; gói thứ bảy được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu hồng bên trong có các cục chất bột màu trắng thể rắn nghi là Heroine; gói thứ tám được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu hồng bên trong có 20 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu xanh lá cây và 13 gói được gói bằng mảnh giấy nilon màu xanh dương, tổng cộng của gói thứ tám này là 33 gói nhỏ bên trong đều là các cục chất bột màu trắng thể rắn nghi là Heroine.
P khai nhận toàn bộ các gói chất bột màu trắng và các gói viên nén màu hồng trên là Heroine và viên Hồng phiến đều là của P. Nguồn gốc số ma túy trên P mua của một người đàn ông tên Nọi vào ngày 21/10/2022 tại khu vực xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên với số tiền 8.000.000đồng. Mục đích mua về để sử dụng và bán kiếm lời.
Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Quàng Văn P và niêm phong toàn bộ số ma túy trên.
Ngoài ra tổ công tác tạm giữ của Quàng Văn P: 01 xe máy, nhãn hiệu HONDA (WAVE), màu sơn: Xanh - đen- bạc, biển kiểm soát 28H1-456.17 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đang ký xe mô tô số 050748, mang tên Bùi Thị Dung, đăng ký xe biển kiểm soát 28H1-456.17; 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, vỏ màu xanh đen (đã cũ); 01 thẻ căn cước công dân số: 012090003627 mang tên Quàng Văn P.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 23/10/2022 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên xác định: Các cục chất bột màu trắng thể rắn nghi là Heroine thu giữ của Quàng Văn P có khối lượng 16,41 gam (Mười sáu phẩy bốn mươi mốt gam), trích tổng 09 mẫu gửi giám định có khối lượng 3,86g làm mẫu vật giám định; Tổng 46 viên nén màu hồng, nghi là ma túy tổng hợp có khối lượng 4,46gam (Bốn phẩy bốn mươi sáu gam), trích tổng 06 mẫu = 15 viên có khối lượng 1,46gam làm mẫu vật giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1411/KL-KTHS ngày 02/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
- 09 (mẫu) chất bột màu trắng được trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn P gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Khối lượng vật chứng thu giữ của Quàng Văn P là 16,41gam Heroine.
- 06 (mẫu) = 15 viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn P gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine;
Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Khối lượng ma túy thu giữ của Quàng Văn P là 4,46 gam Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên nêu trên.
Cáo trạng số 18/CT-VKS – P1 ngày 18/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Tủa Chùa để xét xử bị cáo: Quàng Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Vụ án được chuyển cho cấp huyện để xét xử theo thẩm quyền.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Quàng Văn P từ 11 (Mười một) năm đến 12 (Mười hai) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 12,55 gam Heroine; 3,0 gam Methamphetamine, là vật chứng còn lại của vụ án; 01 chiếc tất tay trẻ em màu trắng; 01 túi nilon màu trắng.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, vỏ màu xanh đen (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho bà Quàng Thị Nh: 01 xe máy, nhãn hiệu HONDA (WAVE), màu sơn: Xanh- đen- bạc, biển kiểm soát 28H1-456.17 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 050748, mang tên Bùi Thị Dung, đăng ký xe biển kiểm soát 28H1-456.17. Trả lại cho bị cáo: 01 thẻ căn cước công dân số: 012090003627 mang tên Quàng Văn P.
Đề nghị miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Quàng Thị Nh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại: 01 xe máy, nhãn hiệu HONDA (WAVE), màu sơn: Xanh - đen- bạc, biển kiểm soát 28H1- 456.17 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 050748, mang tên Bùi Thị Dung, đăng ký xe biển kiểm soát 28H1- 456.17.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến khi bắt quả tang, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng và bản kết luận giám định chất ma túy. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 21/10/2022, Quàng Văn P đã mang 8.000.000đồng và lấy xe máy hiệu HONDA (WAVE), màu sơn: Xanh – đen- bạc, biển kiểm soát 28H1-456.17 đi sang Tủa Chùa, P liên lạc và gặp một người đàn ông tên Nọi (do có quen biết từ trước) để mua ma túy. P liên lạc và hẹn gặp Nọi. Khi gặp Nọi tại gốc cây đa thuộc xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa P đặt vấn đề với Nọi mua 8.000.000đồng Heroine và viên hồng phiến, Nọi đồng ý và và bảo P ở đó chờ Nọi đi tìm mua ma túy cho, một lúc sau Nọi trở lại, Nọi đã giao cho P một gói túi nilon màu trắng, bên trong có một chiếc tất tay trẻ em màu trắng, bên trong chiếc tất có chứa 04 gói nilon màu xanh chứa các cục chất màu trắng và 01 gói nilon màu hồng, trong đó có 08 gói chất bột màu trắng và 46 viên Hồng phiến, mua bán xong Nọi đi đâu thì P không biết, còn P chia số Heroine và Hồng phiến ra thành nhiều gói nhỏ khác nhau rồi dùng nilon gói lại với mục đích để sử dụng và bán kiếm lợi nhuận, sau đó P cho toàn bộ các gói ma túy vào trong một chiếc tất tay trẻ em rồi bỏ vào túi nilon màu trắng như cũ rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc trên người, P điều khiển xe máy đi về. Trên đường về đến khu vực thôn Huổi Trẳng, xã Tủa Thàng, huyện Tủa Chùa thì gặp tổ công tác Công an huyện Tủa Chùa phối hợp với Công an tỉnh Điện Biên phát hiện và thu giữ toàn bộ số ma túy trên người của bị cáo.
Khối lượng ma túy của P gồm: 16,41gam Heroine và 4,46 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng 02 chất ma túy là 20,87 gam, P mua với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì Hành vi của Quàng Văn P có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;
Quàng Văn P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp; Phạm tội vì mục đích sử dụng và mua bán kiếm lời phục vụ cho nhu cầu bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Vì vậy, khẳng định là: Cáo trạng số 18/CT-VKS-P1 ngày 18/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
[2] Về nhân thân, tính chất và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
Bản thân bị cáo đến thời điểm phạm tội không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bản thân bị cáo đang bị khởi tố, điều tra, truy tố chờ xét xử tại huyện SH, tỉnh Lai Châu về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo nhận thức được điều đó nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ và thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để bán kiếm lời nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Do vậy khẳng định bị cáo có nhân thân xấu.
Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có thể giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[3] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ, biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, lại sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng vụ án:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 12,55gam Heroine và 3,0gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi giám định; 01 túi nilon màu trắng dùng để gói ma túy; 01 chiếc tất tay trẻ em màu trắng là những vật cấm lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, vỏ màu xanh đen đã cũ, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay, đều khẳng định bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để trao đổi, giao dịch mua bán trái phép chất ma túy, do vậy cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe máy, nhãn hiệu HONDA (WAVE), màu sơn: Xanh – đen-bạc, biển kiểm soát 28H1-456.17 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 050748, mang tên Bùi Thị Dung, đăng ký xe biển kiểm soát 28H1-456.17, qua điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã làm rõ, chiếc xe là chiếc xe máy là tài sản riêng của Quàng Thị Nh (người đang sống chung như vợ chồng với Quàng Văn P), Nh không biết P lấy xe để đi mua ma túy, do vậy cần trả lại chiếc xe máy và giấy chứng nhận đăng ký xe cho Quàng Thị Nh theo quy định.
Đối với 01 thẻ căn cước công dân số 012090003627, mang tên Quàng Văn P không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy cần trả lại cho bị cáo.
[5] Các vấn đề khác:
Theo lời khai của Quàng Văn P về người đàn ông dân tộc Thái tên Nọi đã bán số ma túy trên cho P. Cơ quan điều tra đã xác minh, xác định đó là Lò Văn Nọi, sinh năm 1975, trú tại: Tổ dân phố Quyết Tiến, thị trấn Tủa Chùa, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên và đã tiến hành các biện pháp điều tra như: Khám xét khẩn cấp nhà Nọi nhưng không thu giữ được gì, tiến hành đấu tranh lấy lời khai, đối chất, kiểm tra điện thoại nhưng Nọi đều không thừa nhận đã bán ma túy cho P, ngoài ra không có chứng cứ nào khác, do vậy chưa đủ căn cứ xác định Lò Văn Nọi đã bán ma túy cho Quàng Văn P, nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để làm rõ. Viện kiểm sát không truy tố. Xét việc xử lý của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định của pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với Nọi.
[6] Về án phí: Bị cáo Quàng Văn P sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định quy định tại Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên; Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; Cơ quan điều tra Công an huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn P phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy".
[2]. Áp dụng:
- Điểm p Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Quàng Văn P 11 (Mười một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 22/10/2022.
[3]. Vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 1; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Đối với 01 (Một) gói niêm phong bằng phong bì niêm phong vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên. Mặt trước gói niêm phong dán miếng giấy có chữ đánh máy: Vật chứng còn lại vụ Quàng Văn P: Chất bột màu trắng, nghi là Heroine có khối lượng = 12,55 gam và 31 viên nén màu hồng, nghi là ma túy tổng hợp, có khối lượng = 3,0 gam; 01 túi nilon màu trắng; 01 chiếc tất tay trẻ em màu trắng.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, vỏ màu xanh (đã qua sử dụng) của Quàng Văn P.
Trả lại: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA (WAVE), màu sơn: Xanh- đen-bạc, BKS: 28H1-456.17, số khung: 3914KY171790, số máy: JA39E-1028785 (xe cũ đã qua sử dụng) và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 050748 mang tên Bùi Thị Dung, đăng ký xe BKS: 28H1 - 456.17 cho Bà Quàng Thị Nh - sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản PH, xã NH, huyện SH, tỉnh Lai Châu.
Trả lại: 01 thẻ căn cước công dân số 012090003627, mang tên Quàng Văn P cho bị cáo.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/01/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên).
[4]. Án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn P.
[5]. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/02/2023). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/02/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tủa Chùa; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện Tủa Chùa; - Cơ quan CSĐT Công an huyện, tỉnh; - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - THADS huyện Tủa Chùa; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA, HSTHA. HỘI THẨM NHÂN DÂN Vì Thị Hằng Lò Thị Dậu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Thanh Tuấn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |