- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H, phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày 04/05/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Hương
Ông Nguyễn Xuân Ký.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Ông Hàn Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/TLST- HS ngày 22 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 04 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/03/1988 tại huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T Th, xã H Q, huyện Nh X, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Lê Thị H1. Tiền án: 01. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2020/HSST ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 30/4/2021 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Về Nhân thân: Ngày 12/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xử lý hành chính bằng biện pháp “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” trong thời hạn 24 tháng. Đến ngày 09/02/2019 bị cáo chấp hành xong, tính đến thời điểm phạm tội nêu trên, bị cáo đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2022 đến nay tại nhà tạm giữ công an huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
*Người làm chứng:
1. Anh Lê Xuân L – Sinh năm: 1979.
Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn Y C, huyện Nh X, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa anh Lê Xuân L vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 12/12/2022, trong quá trình tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường thuộc thôn Thanh Tân, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, tổ công tác của Đội CSĐTTP về KT-MT Công an huyện Như Xuân phối hợp với Công an xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân phát hiện đối tượng Lê Xuân L, sinh năm 1979, trú tại khu phố M, thị trấn Y C, huyện Nh X đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện 01 tờ giấy bạc bị đốt cháy 01 góc, 01 chiếc bật lửa ga. Qua khai thác nhanh tại chỗ, L khai nhận do là người nghiện ma túy, loại Heroine nên vào khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày đã gọi điện cho Lê Văn H, sinh năm 1988, trú tại thôn Tân Thịnh, xã Hóa Quỳ hỏi mua ma túy và được H bán cho 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 500.000 đồng; mua được ma túy, L mang ra khu vực đồi cây (trồng keo và cao su) ở thôn Thanh Tân, xã Hóa Quỳ để sử dụng. Khi vừa sử dụng hết số ma túy mua được thì bị lực lượng công an phát hiện, tờ giấy bạc và chiếc bật lửa là dụng cụ L dùng để sử dụng ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong các đồ vật có liên quan.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Lê Văn H. Kết quả khám xét đã thu giữ, niêm phong 02 gói giấy màu trắng, có dòng kẻ, chứa chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) ở bên dưới đệm giường ngủ nhà H; 01 gói giấy màu trắng, có dòng kẻ, bên trong có lớp giấy bạc, chứa chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) ở phía trên nóc tủ tivi; 01 chiếc điện thoại di động của Lê Văn H. Ngay khi khám xét, H khai nhận các gói giấy chứa chất bột màu trắng ngà nêu trên là ma túy, loại Heroine do H mua về, tàng trữ để sử dụng và chia nhỏ bán cho người nghiện kiếm lời.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn H đã thành khẩn, khai nhận do là người nghiện ma túy nên khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/12/2022, H gọi điện thoại cho người đàn ông tên Th ở xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An để hỏi mua ma túy. Sau đó, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B6-02783 (xe mượn của ông Nguyễn Văn Bảy, sinh năm 1973, ở cùng thôn, là cậu ruột của H) đi đến khu vực dốc ATK, giáp ranh giữa xã Thanh Quân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa với xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An mua của người tên Th 01 gói ma túy, loại Heroine, giá 1.000.000 đồng. Mua được ma túy, H mang về chia nhỏ thành 04 phần, đựng trong các gói giấy để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày do có Lê Xuân L gọi điện hỏi mua ma túy nên H đã hẹn L đến khu vực lề đường liên xã từ Hóa Quỳ đi Cát Tân, gần ngõ rẽ vào nhà H ở thôn Tân Thịnh, xã Hóa Quỳ để giao dịch, H đưa cho L 01 gói ma túy, loại Heroine và nhận của L số tiền 500.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định số 123/QĐ - CSĐT ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với số tang vật nghi là ma túy thu giữ nêu trên gồm: 03 gói giấy chứa chất bột màu trắng ngà. Tại Kết luận giám định số 10/KL - KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Chất bột màu trắng ngà trong 02 gói giấy thu giữ dưới đệm giường ngủ nhà Lê Văn H là ma túy loại Heroine có tổng khối lượng là 0,092g (không phẩy không chín hai gam).
- Chất bột màu trắng ngà trong gói giấy thu giữ trên nóc tủ tivi nhà Lê Văn H là ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,463g (không phẩy bốn sáu ba gam).
Bản cáo trạng số: 09/CT-VKSNX ngày 21/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Lê Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Lê Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H với mức án từ 30 đến 36 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
* Đề nghị Tịch thu, tiêu hủy:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,080 gam chất bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ là ma túy loại Heroine; 0,429 gam chất bột màu trắng đựng trong gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong là lớp giấy bạc là ma túy loại Heroine. Tất cả được cho vào một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng, Lê Duy Tâm và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Bên trong phong bì là vật chứng của vụ án (ma túy còn lại sau giám định).
- 01 giấy bạc bị đốt cháy 01 góc, kích thước (3 x 4)cm; 01 bật lửa gas màu vàng đã qua sử dụng. Tất cả được đựng trong 01 phong bì do Công ty TNHH giấy Phúc Cường phát hành, dán kín bấm ghim các góc được niêm phong bởi các chữ viết, chữ ký đề tên của những người có liên quan và các hình dấu của Công an xã Hóa Quỳ;
- 01 thẻ sim số: 0868003242;
* Đề nghị tịch thu sung công gồm:
- 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng có số seri: IT20699563, trong đó số 63 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: CS 19213507, trong đó số 19 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: HU 18518389, trong đó số 89 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: HT 19957850, trong đó số 19 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “OPPO F9”, số Imei 1: 860163041779237, số Imei 2: 860163041779229, đã qua sử dụng.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thống nhất và không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê Văn H xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, thu lời bất chính và nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên Lê Văn H đã mua ma túy loại Heroine về chia nhỏ, để sử dụng và bán kiếm lời. Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/12/2022, Lê Văn H đã bán cho Lê Xuân L 01 gói ma túy (không xác định được khối lượng). Ngoài ra, H còn đang tàng trữ 03 gói ma túy loại Heroine, có tổng khối lượng 0,555g (không phẩy năm trăm năm mươi lăm gam) tại nơi ở của mình để sử dụng và bán kiếm lời. Lời khai nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Lê Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy loại Heroine, có tổng khối lượng 0,555g (không phẩy năm trăm năm mươi lăm gam) tại nơi ở của mình để sử dụng và bán kiếm lời. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Đây là vụ án hình sự “Mua bán trái phép chất ma túy” có tính chất nghiêm trọng do đối tượng nghiện ma túy Lê Văn H thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn nghiện hút ma túy là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của tệ nạn ma túy và việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân và thu lời bất chính bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời cách ly khỏi đời sống xã hội đối với bị cáo một thời gian là cần thiết.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:
Về Nhân thân: Lê Văn H là đối tượng có nhân thân xấu; Ngày 12/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xử lý hành chính bằng biện pháp “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” trong thời hạn 24 tháng. Đến ngày 09/02/2019 bị cáo chấp hành xong, tính đến thời điểm phạm tội nêu trên, bị cáo đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Tiền án: 01 - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2020/HSST ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 30/4/2021 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích nên Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Tiền sự: Không
Nhưng sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Do bị cáo Lê Văn H có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, nên khi quyết định hình phạt cần xem xét lên cho bị cáo một mức hình phạt nhất định để đủ sức răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, nhưng đồng thời cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt.
- Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo là nhằm mục đích thu lời bất chính nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập, hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,080 gam chất bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ là ma túy loại Heroine; 0,429 gam chất bột màu trắng đựng trong gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong là lớp giấy bạc là ma túy loại Heroine. Tất cả được cho vào một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng, Lê Duy Tâm và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Bên trong phong bì là vật chứng của vụ án (ma túy còn lại sau giám định). Là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 giấy bạc bị đốt cháy 01 góc, kích thước (3 x 4)cm; 01 bật lửa gas màu vàng đã qua sử dụng. Tất cả được đựng trong 01 phong bì do Công ty TNHH giấy Phúc Cường phát hành, dán kín bấm ghim các góc được niêm phong bởi các chữ viết, chữ ký đề tên của những người có liên quan và các hình dấu của Công an xã Hóa Quỳ; 01 thẻ sim số: 0868003242; Đây là những vật chứng thu giữ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền gồm: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng có số seri: IT20699563, trong đó số 63 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: CS 19213507, trong đó số 19 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: HU 18518389, trong đó số 89 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: HT 19957850, trong đó số 19 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh. Đây là số tiền bị cáo H thu lời từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 1.500.000đ (Chi Hoàng Thị H1 tự nguyện giao nộp) Quá trình điều tra, xác định số tiền 1.500.000 đồng (Gồm 05 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 05 tờ mệnh giá 100.000 đồng, không có đặc điểm riêng biệt) trong tổng số tiền thu giữ là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị H1 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu xám xanh, biển kiểm soát 36B6-02783 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn Bảy, không liên quan đến hành vi phạm tội hiện Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại cho chủ sở hữu theo quy định. Nên HĐXX không xem xét.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “OPPO F9”, số Imei 1: 860163041779237, số Imei 2: 860163041779229, đã qua sử dụng. Đây là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc liên lạc để mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu bán đấu giá để sung vào ngân sách nhà nước.
Về các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma túy, trên cơ sở lời khai của bị cáo Lê Văn H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của đối tượng tên Th ở xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, đồng thời cho H nhận dạng qua ảnh để xác định rõ đối tượng đã bán ma túy cho H. Kết quả, xác định người mà H khai đã bán ma túy cho H là Hoàng Văn Th, sinh năm 1987, trú tại Bản M, xã Ch Ng, huyện Q Ch, tỉnh Nghệ An. Hiện đối tượng này đã bỏ đi khỏi địa phương, không xác định được địa chỉ nên chưa lấy được lời khai, mặt khác ngoài lời khai của H, Cơ quan điều tra cũng không thu thập được chứng cứ, tài liệu nào khác chứng minh có việc đối tượng này bán ma túy cho H nên chưa có đủ căn cứ để khởi tố, xử lý trách nhiệm hình sự đối với người này. Vấn đề này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo đúng quy định pháp luật.
Đối với Lê Xuân L là người mua ma túy của H để sử dụng. Thời điểm bị phát hiện, L đã sử dụng hết số ma túy đã mua được nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với L. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện Như Xuân xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với L theo quy định pháp luật.
Đối với ông Lê Văn Bảy, là cậu ruột của bị cáo H và là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B6-02783 mà H dùng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định, ông Bảy không biết việc H sử dụng xe mô tô của ông để đi mua ma túy nên việc ông cho H mượn xe không vi phạm pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn H là người bị kết án nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 12/12/2022.
Vật chứng:
+ Tịch thu, tiêu hủy:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,080 (không phẩy không tám mươi) gam chất bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ là ma túy loại Heroine; 0,429 (không phẩy bốn hai chín) gam chất bột màu trắng đựng trong gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong là lớp giấy bạc là ma túy loại Heroine. Tất cả được cho vào một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng, Lê Duy Tâm và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Bên trong phong bì là vật chứng của vụ án (ma túy còn lại sau giám định).
- 01 giấy bạc bị đốt cháy 01 góc, kích thước (3 x 4)cm; 01 bật lửa gas màu vàng đã qua sử dụng. Tất cả được đựng trong 01 phong bì do Công ty TNHH giấy Phúc Cường phát hành, dán kín bấm ghim các góc được niêm phong bởi các chữ viết, chữ ký đề tên của những người có liên quan và các hình dấu của Công an xã Hóa Quỳ; 01 thẻ sim số: 0868003242.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng có số seri: IT20699563, trong đó số 63 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: CS 19213507, trong đó số 19 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: HU 18518389, trong đó số 89 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, có số seri: HT 19957850, trong đó số 19 trong dãy số được khoanh tròn bằng mực màu xanh.
+ Tịch thu bán đấu giá sung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “OPPO F9”, số Imei 1: 860163041779237, số Imei 2: 860163041779229, đã qua sử dụng.
Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 22/2023/TSTV ngày 04/05/2023 giữa Công an huyện Như Xuân và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Án phí: Bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (04/05/2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSND H.Như Xuân; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - CQĐT H.Như Xuân; - Nhà tạm giữ, CA H.Như Xuân; - Chi cục THADS H.Như Xuân; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thu Hằng |