- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày: 20-03-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Quang Kim Cúc;
Ông Nguyễn Chí Công.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2023/HSST-QĐ, ngày 02 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Phùng Văn K, sinh năm: 2000, tại Vĩnh Long; tên gọi khác: K L; nơi cư trú: 1474, Tổ 6, ấp T T, xã T B, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thu X; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: Từ ngày từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022; tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi trú và hiện đang tại ngoại tại: 1474, Tổ 6, ấp T T, xã T B, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
1. Phùng Văn Đ - sinh năm: 1977. (có mặt)
2. Nguyễn Thị Thu X - sinh năm: 1981. (có mặt)
Cùng nơi cư trú: 1474, tổ 6, ấp T T, xã T B, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Văn K là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 21 giờ ngày 19/12/2022, K một mình điều khiển xe mô tô biển số 64H1 - 0542 (xe này K mượn của cha ruột la ông Phùng Văn Đ) đến địa phận xã T L, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long gặp 01 người đàn ông tên H (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng. Sau đó, K cầm ma túy trên tay trái, rồi điều khiển xe mô tô biển số 64H - 0542 lưu thông trên đường Quốc lộ 54 đến địa phận xã Đ H, huyện Lai Vung kiếm người bạn tên V (không rõ họ tên, địa chỉ) mục đích để cùng Việt sử dụng. Khi đến trước quán giải khát “M L” thuộc ấp Đ T, xã Đ H, huyện Lai Vung, thì bị lực lượng Công an huyện Lai Vung đang tuần tra thấy K có biểu hiện khả nghi nên tiến hành kiểm tra hành chính thì K điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Quá trình truy đuổi, K bị Công an khống chế làm bịch nylong bên trong nghi là ma túy đang cầm trên tay rơi xuống mặt đường. Công an đã thu giữ của Phùng Văn K các tài sản và vật chứng gồm: 01 (một) bịch nylong màu trắng hàn kín, bên ngoài có quấn băng keo màu đen, bên trong có chứa tinh thể rắn nghi là ma túy được niêm phong trong bì thư màu trắng; 01 (một) chai bằng kim loại màu trắng có nắp đậy màu đen; 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím màu trắng; Tiền Việt Nam 1.100.000 đồng và 01 (một) xe mô tô biển số 64H1-0542.
Kết quả điều tra, nguồn gốc xe mô tô biển số 64H1- 0542 do bà Phùng Thị L đứng tên giấy đăng ký xe. Năm 2006, ông Phùng Văn Đ do không có giấy phép lái xe nên nhờ bà L (em ruột của ông Đ) đại diện đứng tên giấy đăng ký xe. Hiện bà L không có mặt tại địa phương, ông Đ đã sử dụng xe mô tô nêu trên từ năm 2006 đến nay. Ông Đ không biết K sử dụng xe mô tô nêu trên vào việc phạm tội nên yêu cầu được nhận lại xe. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 64H1-0542 cho ông Đ.
- Tại Kết luận giám định số 1173/KL-KTHS ngày 21/12/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong một bịch nylong màu trắng hàn kín, bên ngoài quấn băng keo màu đen, được niêm phong trong bì thư màu trắng là chất ma túy, có khối lượng 0,246 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSLVg, ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Phùng Văn K ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phùng Văn K khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố đúng như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. khoảng 21 giờ ngày 19/12/2022, Phùng Văn K có hành vi mua ma túy của người đàn ông tên Hoàng có khối lượng 0,246 gam, loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng cất giấu trong người với mục đích đi tìm người bạn tên Việt để sử dụng, nhưng khi đến khu vực gần quán giải khát “M L” thuộc ấp Đ T, xã Đ H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang; khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt Phùng Văn K 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt đối với bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn có khối lượng 0,183 gam được niêm phong trong bì thư ghi “Niêm phong số 1192 ngày 20/12/2022”, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên: Trương Minh , Nguyễn Văn Bé N, Trà Quốc C và Phùng Văn K (Đây là ma túy Cơ quan giám định hoàn trả lại sau khi giám định).
+ Trả lại cho Phùng Văn K các tài sản do không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 (một) chai bằng kim loại màu trắng có nắp đậy màu đen; 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím màu trắng; Tiền Việt Nam 1.100.000 đồng. Nhưng tiếp tục tạm giữ 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím màu trắng và 1.100.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
(Hiện các vật chứng và tài sản do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Đối với người đàn ông tên H bán ma túy cho bị can Phùng Văn K và người thanh niên tên V chưa xác định họ tên địa chỉ, nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
Bị cáo Phùng Văn K thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Phùng Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,246 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, cho nên hành vi của bị cáo Phùng Văn K có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
… … … …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”
Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Văn K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước, qua đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh bình thường của con người. Đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận không nhỏ trong nhân dân đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, ngoài ra cần phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy cần phải có một mức hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có tư tưởng như bị cáo.
Đối với người đàn ông tên H bán ma túy cho bị cáo Phùng Văn K và người thanh niên tên V chưa xác định họ tên địa chỉ, nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phùng Văn K thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng đã được niêm phong số: 1192 ngày 20/12/2022 trên phong bì có chữ “CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, CÔNG AN HUYỆN LAI VUNG”, có chữ ký và ghi họ tên của điều tra viên Trà Quốc C, Trương Minh , Nguyễn Văn Bé N, Phùng Văn K và có đóng dấu mọc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, ký hiệu A1 (Đây là ma túy Cơ quan giám định hoàn trả lại sau khi giám định); 01 (một) chai bằng kim loại màu trắng có nắp đậy màu đen, vì không còn giá trị sử dụng.
- Trả lại cho Phùng Văn K các tài sản do không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím màu trắng có nhiều hoa văn có số IMEI: 356920/03/071887/7, MODEL: 1202-2; Tiền Việt Nam 1.100.000 đồng trong 01 (một) gói niêm phong có chữ ký và ghi họ tên của Phùng Văn K và điều tra viên Trà Quốc C, có đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, nhưng tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện các vật chứng và tài sản do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử đồng ý quan điểm của Kiểm sát viên.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phùng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022.
- Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Phùng Văn K 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng đã được niêm phong số: 1192 ngày 20/12/2022 trên phong bì có chữ “CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, CÔNG AN HUYỆN LAI VUNG”, có chữ ký và ghi họ tên của điều tra viên Trà Quốc C, Trương Minh V, Nguyễn Văn Bé N, Phùng Văn K và có đóng dấu mọc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, ký hiệu A1 (Đây là ma túy Cơ quan giám định hoàn trả lại sau khi giám định); 01 (một) chai bằng kim loại màu trắng có nắp đậy màu đen.
- Trả lại cho Phùng Văn K: 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím màu trắng có nhiều hoa văn có số IMEI: 356920/03/071887/7, MODEL: 1202-2; Tiền Việt Nam 1.100.000 đồng trong 01 (một) gói niêm phong có chữ ký và ghi họ tên của Phùng Văn K và điều tra viên Trà Quốc C, có đóng dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, nhưng tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện các vật chứng và tài sản do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phùng Văn K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/3/2023.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự: Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - VKSND H.Lai Vung; - CCTHA-DS H.Lai Vung; - Cơ quan điều tra H. Lai Vung; - Cơ quan THAHS H. Lai Vung; - Sở tư pháp; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Nguyễn Văn Út |