- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị P - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị P phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày: 15-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nông Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Tấn Dũng.
Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Thị P, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1983, tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Khóm T 1, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn D và bà Võ Thị B; chung sống như vợ chồng với người khác, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ: Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tạm giam: Ngày 25 tháng 11 năm 2022; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng Phạm Văn L, Thái Văn P1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 15 phút, ngày 15 tháng 11 năm 2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại Quán nước giải khát của Võ Thị P, thuộc Khóm T 1, thị trấn T, có đối tượng nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Công an huyện Hồng Ngự phối hợp với Công an thị trấn T, tiến hành kiểm tra, phát hiện như sau: 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh lá cây, sọc trắng hàn kín hai đầu; 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh dương, sọc trắng hàn kín hai đầu và 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng hàn kín hai đầu bên trong đều chứa tinh thể rắn nghi là chất ma túy được để trong vỏ bịch sữa nhãn hiệu Vinamilk, để trên kệ bán nước giải khát; dưới chân tủ nhôm có 01 ống hút nhựa màu xanh lá cây, sọc trắng hàn kín hai đầu và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dương sọc trắng hàn kín hai đầu bên trong đều chứa tinh thể rắn (nghi là ma túy). Lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- 04 (bốn) đoạn ống hút nhựa màu xanh lá cây, sọc trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn (nghi là ma túy); 04 (bốn) đoạn ống hút nhựa màu xanh dương, sọc trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn (nghi là ma túy); 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn (nghi là ma túy), được niêm phong trong phong bì giấy có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn B, Lê Trọng T, Thái Văn P2, 02 dấu vân tay màu đỏ, ghi tên Võ Thị P và có dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn T.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen và 01 thẻ sim điện thoại Viettel 4G, không xác định số thuê bao (không còn sử dụng được), bị cáo P dùng để liên lạc mua ma túy.
- 01 bộ dụng cụ, dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; 01 vỏ bịch sữa, hiệu VINAMILK; 01 bật lửa, màu trắng; 01 cân tiểu ly, hiệu Amput; 01 ống hút nhựa màu xanh lá cây, sọc trắng; 01 ống hút nhựa màu xanh dương, sọc trắng; 01 ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng; 03 cây kéo bằng kim loại (01 cây dài 11cm; 01 cây dài 13cm; 01 cây dài 15cm). Tất cả đều của bị cáo P.
Tiền Việt Nam 1.000.000 đồng, là số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy có được, do P giao nộp. Còn lại 500.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân, hiện tại không có khả năng giao nộp.
Kết luận giám định số 1060/KL-KTHS ngày 18 tháng 11 năm 2022, của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 09 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu (04 đoạn màu xanh lá cây sọc trắng; 04 đoạn màu xanh dương sọc trắng và 01 đoạn màu đỏ sọc trắng), được niêm phong trong cùng phong bì giấy nêu trên gửi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 1,059 gam, loại Methamphetamine.”
Quá trình điều tra, Võ Thị P thừa nhận số ma túy bị Công an bắt quả tang, bị cáo P mua của người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ), với số tiền 1.500.000 đồng, mục đích để bán lại kiếm lời. P đã bán ma túy cho Phạm Văn L 03 lần, mỗi lần 100.000 đồng. Ngoài ra, còn bán nhiều lần cho nhiều người, không biết rõ họ tên địa chỉ, thu lợi từ việc bán ma túy 1.500.000 đồng, đã tính số tiền 300.000 đồng bán ma túy cho L.
Tại Cáo trạng truy tố số 05/CT-VKSHN ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Võ Thị P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù. Về vật chứng, căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định, bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, bật lửa; cân tiểu ly; các ống hút nhựa; 03 cây kéo; thẻ sim điện thoại; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước điện thoại Nokia, 1.000.000 đồng; Buộc P nộp lại số tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng.
- Đối với người thanh niên (không họ tên, địa chỉ cụ thể) bán ma túy cho P, chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.
- Bị cáo P khai nhận ngoài 03 lần bán cho Phạm Văn L, còn bán nhiều lần và cho nhiều người (không biết rõ họ tên địa chỉ cụ thể). Chỉ có lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác, nên không đủ căn cứ xác định tình tiết bán ma túy đối với 02 người trở lên.
- Phạm Văn L là người mua ma túy của P 03 lần, đã sử dụng hết không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã đề nghị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ nói lời sau cùng: Do hoàn cảnh khó khăn, không am hiểu pháp luật, không biết phạm tội nặng như vậy, bị cáo có bệnh viêm khớp, đã biết tội; Xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo sớm về với gia đình, nuôi con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đã chứng minh được: Bị cáo Võ Thị P có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Bị cáo P đã có hành vi mua ma túy về bán lại cho Phạm Văn L 03 lần và bán cho những người khác nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được ai đã mua. Số ma túy còn lại bị bắt quả tang là 1,059 gam Methamphetamine. Do đó, đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS, quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:…
b) Phạm tội 02 lần trở lên;…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Do đó, đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo P phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Như vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo có lỗi cố ý trực tiếp và đã thực hiện tội phạm hoàn thành.
Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước; ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh bình thường của con người. Ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần, việc mua bán, sử dụng phải được cơ quan chức năng của Nhà nước cho phép. Bởi lẽ, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội là rất nặng nề, nó gây tác hại lâu dài cho nòi giống, phát sinh mâu thuẫn trong cộng đồng, làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình của người sử dụng, gây tổn hại về tình cảm, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu dài của dân tộc. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, đối tượng nghiện muốn có tiền để sử dụng ma túy, còn có thể phát sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, mại dâm, thậm chí cướp tài sản, giết người... Vậy mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, đi gieo rắc “cái chết trắng” cho người khác, tạo ra gánh nặng cho xã hội.
Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự bất chấp, xem thường pháp luật. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự thú những lần mua bán trái phép chất ma túy, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của BLHS; nộp lại tiền thu lợi bất chính, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, con nhỏ của bị cáo sinh ngày 27 tháng 10 năm 2018, chưa đủ 5 tuổi rất cần sự chăm sóc của mẹ, nên Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Căn cứ vào các tình tiết vừa nêu để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về hình phạt bổ sung: Điều kiện kinh tế của bị cáo mua bán quán nước nhỏ, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Không có phát sinh nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng, tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm: Đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Các vấn đề khác Viện kiểm sát không đề cập là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị P phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Võ Thị P 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 11 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng, tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,956 gam, được niêm phong lại trong phong bì ghi “Niêm phong số: 1086, ngày 16/11/2022, có hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Đinh Nhựt D, Nguyễn Văn B và in 02 dấu vân tay màu đỏ, ghi họ tên Võ Thị P; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; 01 vỏ bịch sữa nhãn hiệu VINAMILK; 01 bật lửa màu trắng; 01 cây cân tiểu ly hiệu Amput; 01 ống hút nhựa màu xanh lá cây, sọc trắng; 01 ống hút nhựa màu xanh dương, sọc trắng; 01 ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng; 03 cây kéo bằng kim loại (Trong đó: có 01 cây kéo có chiều dài 11cm; 01 cây kéo có chiều dài 13cm; 01 cây kéo có chiều dài 15cm); 01 thẻ sim điện thoại Viettel 4G, không xác định số thuê bao (đều đã qua sử dụng).
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen (đã qua sử dụng) và 1.000.000 (Một triệu) đồng.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản và Biên lai thu tiền số 0002340 cùng ngày 05 tháng 01 năm 2023.
2.3. Buộc Võ Thị P nộp vào ngân sách Nhà nước khoản tiền thu lợi bất chính 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng.
3. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Thị P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15 tháng 3 năm 2023).
| Nơi nhận: -Bị cáo, bị hại (nếu có); -Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra cùng cấp; -Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; -Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; -Nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có); -Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; -Cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương nơi giám sát, giáo dục người được hưởng án treo (nếu có); -Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nông Phú |