vanban.org

Bản án 13/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H phạm: “Tội chống người thi hành công vụ”.

1/ Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạt: Nguyễn Văn I 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 30/5/2023. 2/ Căn cứ khoản 1 Điều 33… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn I- Lê Văn H - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H phạm: “Tội chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 13/2023/HS-ST
Ngày 30 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thành Đồng.

Bà Trần Ngọc Diệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trúc là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Văn I, sinh ngày 01/01/1975 tại tỉnh Bến Tre.

Tên gọi khác: không.

Nơi cư trú: ấp Q, xã T, huyện G, tỉnh B; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1930 (chết) và bà Bùi Thị N, sinh năm 1936 (chết); vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1981; con có 02 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/02/2023 cho đến nay. (có mặt)

2/ Lê Văn H, sinh ngày 10/02/1984 tại tỉnh Bến Tre.

Tên gọi khác: không.

Nơi cư trú: ấp Q, xã T, huyện G, tỉnh B; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1956 và bà Lê Thị K, sinh năm 1961; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/02/2023 cho đến nay. (có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn I: Luật sư Huỳnh Minh T – Công ty luật TNHH một thành viên Đồng Khởi (thuộc đoàn luật sư tỉnh Bến Tre). (có mặt)

Trang 1

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Minh T - Trưởng Công an xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

2/ Ông Nguyễn Hoài N - Công an viên xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

3/ Ông Nguyễn Thành P - Công an viên xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

4/ Ông Cao Anh P - Công an viên xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

5/ Ông Nguyễn Chiến T - Lực lượng đảm bảo an ninh trật tự xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

* Người làm chứng:

1/ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp Quí Điền B, xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

2/ Ông Trương Văn P, sinh năm 1974. Nơi cư trú: ấp Quí Điền A, xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

3/ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp Quí Điền B, xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

4/ Ông Trương Văn N, sinh năm 1994. Nơi cư trú: ấp Quí Điền A, xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

5/ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp Quí Điền B, xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/01/2022, Công an xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Kế hoạch số 06/KH-CAX về việc triệt phá tụ điểm đánh bạc được thua bằng tiền trên địa bàn xã Thạnh Phú Đông trong thời gian từ ngày 17/01/2022 đến ngày 15/02/2022, kế hoạch được Ban chỉ huy Công an huyện Giồng Trôm phê duyệt.

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 01/02/2022, ông Nguyễn Minh T - Trưởng Công an xã Thạnh Phú Đông nhận tin báo từ quần chúng nhân dân về việc tại nhà bị cáo Nguyễn Văn I ở ấp Q, xã T, huyện G, tỉnh B có nhiều đối tượng tụ tập, có dấu hiệu đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà. Ông T triển khai lực lượng đến địa điểm như tin báo để xem xét giải quyết, gồm: Đại úy Nguyễn Minh T - Trưởng Công an xã (Tổ trưởng) và các Tổ viên: Thượng úy Nguyễn Hoài N - Công an viên; Thiếu úy Nguyễn Thành P - Công an viên; ông Cao Anh P - Công an viên ấp Hưng Phú A; ông Nguyễn Chiến Tuấn - Lực lượng đảm bảo an ninh trật tự cơ sở xã Thạnh Phú Đông.

Khoảng 11 giờ cùng ngày, Tổ công tác đến nhà ông Nguyễn Văn I phát hiện có nhiều đối tượng tụ tập có dấu hiệu chuẩn bị chơi đá gà nên ông N dùng súng (đạn cao su) bắn một viên chỉ thiên và thông báo về việc lực lượng Công an xã Thạnh Phú Đông

Trang 2

đến thực hiện nhiệm vụ giải tán tụ điểm đánh bạc. Lúc này, ông Trương Văn P, sinh năm 1974. Nơi cư trú: ấp Q, xã T, huyện G, tỉnh B cầm một giỏ đệm bên trong có 01 con gà rời khỏi hiện trường, Tổ công tác tiếp cận ông P và tiến hành tạm giữ con gà của ông P để làm rõ. Trong lúc, Nguyễn Văn I (đã uống rượu, bia) cho rằng Tổ công tác tạm giữ con gà của I nên I có hành vi dùng lời nói đe dọa, xúc phạm Tổ công tác. Ông N giải thích cho Inh về việc con gà bị tạm giữ là của ông P, đồng thời xuất trình Thẻ ngành Công an cho I xem nhưng Inh vẫn chửi thề và nói “Tụi mày là lũ ăn cướp, Chính phủ cho chơi đá gà mấy ngày Tết mà cũng vô bắt”, sau đó I dùng tay nắm cổ áo ông N nhưng được nhiều người can ngăn. Lúc này, Lê Văn H có mặt ở nhà I chứng kiến sự việc và không liên quan đến mình nhưng lại có hành vi dùng lời nói thô tục, chửi thề đối với Tổ công tác, H dùng tay nắm cổ áo, giật khẩu trang của đồng chí N đang đeo làm cho ông N bị trầy xước ở sống mũi. H tiếp tục nắm cổ áo của ông P thì được nhiều người can ngăn. Sau đó ông N điện về Công an xã Thạnh Phú Đông thông báo về việc Nguyễn Văn I, Lê Văn H có hành vi dùng lời nói xúc phạm, dùng vũ lực cản trở Tổ công tác thực hiện công vụ, dẫn đến các đối tượng tham gia đá gà lợi dụng sự việc xảy ra để rời khỏi hiện trường nên Tổ công tác gặp khó khăn trong việc lập biên bản, tạm giữ tang vật có liên quan. Ông Nguyễn Tuấn A - Phó trưởng Công an xã Thạnh Phú Đông tiếp nhận thông tin và đến hiện trường tiến hành lập Biên bản sự việc đối với các đối tượng có hành vi dùng vũ lực cản trở Tổ công tác thực hiện công vụ.

Vật chứng tạm giữ:

- Ông Nguyễn Hoài N giao nộp: 01 cái áo nam bằng vải, tay ngắn, màu xanh xám, bên trong áo và phía sau cổ áo có chữ BLUE MAN, phía trước có 07 cúc áo, trong đó cúc áo thứ hai (theo hướng từ trên xuống) bị đứt; 01 khẩu trang y tế, màu xanh trắng, có chữ DCK.

- Thu giữ tại hiện trường: 01 cân đồng hồ màu xanh, loại 05kg; 01 đoạn vải băng dính màu trắng đã qua sử dụng dài 103cm; 01 đoạn vải băng dính màu trắng đã qua sử dụng dài 170cm; 12 vỏ cuộn băng dính màu trắng, đỏ đã qua sử dụng; 10 cuộn băng dính màu trắng, đỏ chưa sử dụng; 01 giỏ đệm đan bằng lát màu vàng và 01 con gà trống lông đỏ-đen.

Hiện trường vụ án xảy ra tại sân nhà Nguyễn Văn I ở ấp Q, xã T, huyện G, tỉnh B. Vị trí I, H có hành vi cản trở Tổ công tác làm nhiệm vụ, cách vách nhà I về hướng Nam là 6,2 mét, cách vị trí Inh ngồi uống rượu trước đó về hướng Đông Nam là 6,5 mét.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 89-0222/TgT ngày 31/3/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bến Tre kết luận thương tích của Nguyễn Hoài N như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt.

- Vết sẹo mờ vùng chính mũi phải kích thước 0,3 x 0,1cm, không ghi nhận sưng bầm, hiện còn vết sạm da kích thước: 0,5cm x 0,5cm.

2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là: 02%.

Tại Công văn số 77/GĐTH-PY ngày 13/6/2022 xác định cơ chế hình thành thương tích của Nguyễn Hoài Nhớ như sau:

Trang 3

Vết sẹo mờ vùng chính mũi phải kích thước 0,3 x 0,1cm, không ghi nhận sưng bầm, hiện còn vết sạm da kích thước: 0,5cm x 0,5cm là do tác động của ngoại lực gây ra.

Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc nhọn gây ra.

Nếu trong lúc ông H dùng tay giật khẩu trang của ông N đang đeo, móng tay của ông H trúng vào mũi của ông N thì có thể gây ra được thương tích như trong Giấy chứng nhận thương tích.

Về vật chứng của vụ án:

- Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Hoài N: 01 cái áo nam bằng vải, tay ngắn, màu xanh xám và 01 khẩu trang y tế, màu xanh trắng.

- Đối với 01 cân đồng hồ màu xanh, loại 05kg; 01 đoạn vải băng dính màu trắng đã qua sử dụng dài 103cm; 01 đoạn vải băng dính màu trắng đã qua sử dụng dài 170cm; 12 vỏ cuộn băng dính màu trắng, đỏ đã qua sử dụng; 10 cuộn băng dính màu trắng, đỏ chưa sử dụng; 01 giỏ đệm được đan bằng lát màu vàng và 01 con gà trống lông đỏ-đen, là những tang vật có liên quan trong vụ đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm đã bàn giao cho Công an xã Thạnh Phú Đông xử lý theo thẩm quyền.

Bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSGT, ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm truy tố các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn I từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa không ai yêu cầu gì nên không đề cập.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không đề cập.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn I thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nên không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo I ở mức thấp nhất của mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo I thống nhất với quan điểm của người bào chữa và không tranh luận gì thêm.

Ngoài ra không ai tranh luận đối với phần luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin lỗi Tổ công tác của Công an xã Thạnh Phú Đông làm nhiệm vụ ngày 01/02/2022, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Trang 4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Giồng Trôm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người làm chứng Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn P vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra những người này đã có lời khai rõ ràng nên sự vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người làm chứng nói trên theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra như biên bản sự việc, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để khẳng định, vào ngày 01/02/2022, khi Tổ công tác Công an xã Thạnh Phú Đông đang thực hiện nhiệm vụ tại sân nhà của bị cáo Nguyễn Văn I thuộc ấp Q, xã T, huyện G, tỉnh B thì bị cáo Nguyễn Văn I có hành vi dùng lời nói thô tục chửi Tổ công tác Công an xã Thạnh Phú Đông, dùng tay nắm cổ áo ông Nguyễn Hoài N là thành viên Tổ công tác Công an xã Thạnh Phú Đông; bị cáo Lê Văn H có hành vi dùng lời nói thô tục chửi Tổ công tác Công an xã Thạnh Phú Đông, dùng tay giật khẩu trang, nắm cổ áo của ông Nguyễn Hoài N là thành viên Tổ công tác Công an xã Thạnh Phú Đông và dùng tay năm cổ áo của ông Cao Anh P là thành viên Tổ công tác Công an xã Thạnh Phú Đông. Về phía Tổ công tác Công an xã Thạnh Phú Đông làm nhiệm vụ ngày 01/02/2022 tại khu vực ấp Quí Điền B, xã Thạnh Phú Đông theo sự phân công của Trưởng Công an xã Thạnh Phú Đông dựa theo Kế hoạch số 43 ngày 15 tháng 01 năm 2022 và Kế hoạch số 06 ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Công an xã Thạnh Phú Đông. Do đó, Tổ công tác Công an xã Thạnh Phú Đông làm nhiệm vụ vào ngày 01/02/2022 là thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao. Do đó, hành vi trên của các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho các bị cáo.

Các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm hoạt động đúng đắn của Cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực trật tự xã hội mà trực tiếp là những người đang thực thi nhiệm vụ, chức trách theo quy định của pháp luật. Hành vi của các bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, đối với hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm. Trong vụ án này, tuy các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng do bộc phát, hành vi mang tính đơn lẻ của cá nhân nên không

Trang 5

được xem là đồng phạm. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về từng hành vi mà mỗi bị cáo gây ra. Xét về tính chất mức độ thì hành vi của các bị cáo là tương đồng nhau. Qua phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi mà các bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử cân nhắc để xem xét đưa ra mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo sau khi căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Về nhân thân của bị cáo: các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H không có tiền án, tiền sự nên được xem là có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định tội, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn và Lê Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Inh có dì ruột là bà Bùi Thị L được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, có cậu ruột ông Bùi Văn K là Thương binh Hạng ¾ và bị cáo là lao động chính trong gia đình, nên bị cáo Inh còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà các bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của Nhà nước nhưng xét về ý thức cũng như hành vi của các bị cáo là bộc phát nhất thời do không kiểm soát được hành vi, mặt khác các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao hai bị cáo cho chính quyền nơi cư trú phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện để cảm hóa, giáo dục hai bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm về phần hình phạt của các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn I là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Hoài N: 01 cái áo nam bằng vải, tay ngắn, màu xanh xám và 01 khẩu trang y tế, màu xanh trắng; Đối với 01 cân đồng hồ màu xanh, loại 05kg; 01 đoạn vải băng dính màu trắng đã qua sử dụng dài 103cm; 01 đoạn vải băng dính màu trắng đã qua sử dụng dài 170cm; 12 vỏ cuộn băng dính màu trắng, đỏ đã qua sử dụng; 10 cuộn băng dính màu trắng, đỏ chưa sử dụng; 01 giỏ đệm được đan bằng lát màu vàng và 01 con gà trống lông đỏ-đen, là những tang vật có liên quan trong vụ đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Trôm đã bàn giao cho Công an xã Thạnh Phú Đông xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.

Trang 6

Về án phí: các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H phạm: “Tội chống người thi hành công vụ”.

1/ Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạt: Nguyễn Văn I 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 30/5/2023.

2/ Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạt: Lê Văn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 30/5/2023.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre kết hợp cùng với gia đình để giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của

Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Việc giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc đối với người được hưởng án treo thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn I và Lê Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ