- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày 03-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU - TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Mai Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Tự;
2. Ông Trần Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ba Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Biết, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2022/HS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1969; tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Lg, xã LN, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L và bà Phan Thị C; Có vợ: Chị Nguyễn Thị T và 03 người con; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962; Địa chỉ: Ấp TA xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bà M:
1. Ông Võ Văn B, sinh năm 1961; Địa chỉ: Ấp TA xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh (chồng của bà M), có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Chị Võ Thị Phượng L, sinh năm 1982, anh Võ Bá T, sinh năm 1983, anh Võ Phước T1, sinh năm 1986 (các con của bà M), uỷ quyền cho ông Võ Văn B (văn bản uỷ quyền ngày 30-12-2023) ông B có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn H có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/7/2022, Hướng điều khiển xe mô tô biển số 70E1-063.10 lưu thông từ hướng ngã ba Đất Sét đến xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Khi đến đoạn đường 784 thuộc khu vực ấp K, xã C, Huyện D, Hướng điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái nhưng không đảm bảo an toàn nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 70G1-786.05 do anh Phạm Thương E, sinh năm 2005, ngụ ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh điều khiển chở bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962 và cháu Phạm Thùy Phương T2, sinh năm 2012, cùng ngụ ấp Trường Ân xã Trường Đông, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đang lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả, bà M bị thương được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh, đến ngày 18/7/2022 thì bà M tử vong.
* Kết luận giám định pháp y về tử thi số 869/KL-KTHS ngày 10 tháng 8 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị M là do chấn thương sọ não.
* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô biển số 70G1-786.05 số khung 11AZLJ222641, số máy: CGA1ID222644 trả cho anh Phạm Thương E; 01 mô tô biển số 70E1-063.10, số khung CJ5B950BY117519, số máy: 5B95117537 trả cho Trần Văn H.
- 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số U490830 mang tên Trần Văn H. Đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Huyện Dương Minh Châu
* Về trách nhiệm dân sự: Trần Văn H đã bồi thường thiệt hại số tiền 30.000.000 đồng. Ông Võ Văn B là người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị M đã nhận đủ số tiền nêu trên; không yêu cầu bồi thường và có đơn bãi nại cho Trần Văn H.
Tại cáo trạng số 10/CT-VKSDMC ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện D đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn H 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Trần Văn H 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số U490830 mang tên Trần Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Trần Văn H đã bồi thường thiệt hại số tiền 30.000.000 đồng. Ghi nhận đại diện gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 17-7-2022, bị cáo Trần Văn H có giấy phép lái xe theo quy định, đã điều khiển xe mô tô biển số 70E1-063.10 lưu thông từ hướng ngã ba Đất Sét đến xã Cầu Khởi, khi đến đoạn đường 784 thuộc khu vực ấp K, xã C, Huyện D, bị cáo điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái nhưng không đảm bảo an toàn nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 70G1-786.05 do anh Phạm Thương E, sinh năm 2005, điều khiển chở bà Nguyễn Thị M và cháu Phạm Thùy Phương T2 đang lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả, bà M bị thương được đưa đến cấp cứu, đến ngày 18/7/2022 thì bà M tử vong.
[2.1] Hành vi của bị cáo Văn H là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và đã gây hậu quả rất nghiêm trọng cho tính mạng của người tham gia giao thông cụ thể là làm chết 01 người, để lại hậu quả đau thương cho phía gia đình bị hại nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản hiện trường và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó phải xét xử hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng chống tội phạm.
Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền 30.000.000 đồng cho gia đình người bị hại. Ông Võ Văn B là người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền nêu trên; không yêu cầu bồi thường và có đơn bãi nại cho Trần Văn H. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi của mình. Cha bị cáo là ông Trần Văn L được Chủ tịch nước tặng Huân chương hạng ba. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Trả 01 xe mô tô biển số 70G1-786.05 số khung 11AZLJ222641, số máy: CGA1ID222644 cho anh Phạm Thương E. Trả 01 mô tô biển số 70E1-063.10, số khung CJ5B950BY117519, số máy: 5B95117537 cho Trần Văn H. Ghi nhận đã trả xong tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu.
- Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số U490830 mang tên Trần Văn H, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Huyện Dương Minh Châu cần trả lại cho bị cáo.
- Về bồi thường thiệt hại: Trần Văn H đã bồi thường thiệt hại số tiền 30.000.000 đồng. Ông Võ Văn B là người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền nêu trên; không yêu cầu bồi thường thêm nên toà án không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm.: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016:
[1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Trả 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số U490830 mang tên Trần Văn H cho bị cáo. Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-01-2023.
- Về bồi thường thiệt hại: Trần Văn H đã bồi thường thiệt hại số tiền 30.000.000 đồng. Ông Võ Văn B là người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền nêu trên; không yêu cầu bồi thường thêm.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm.: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
[4] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tây Ninh; -VKSND tỉnh Tây Ninh; -VKSND Huyện DMC; -THA Huyện DMC; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Mai Dung (đã ký) Phan Thị Mai Dung |