vanban.org

Bản án 13/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo N VT, LThT S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo N V Th08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 16/02/2023 Xử phạt bị cáo L Th T S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 16/02/2023 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua ban trai phep chat ma tuy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N VT, LThT S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁT TIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 13/2023/HS-ST
Ngày 31-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thanh Nga

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Hào-Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023. Tòa án huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST- HS ngày 23 tháng 6 năm 2023; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: N V Thg; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/04/1993; Tại: Bình Phước; HKTT, chỗ ở hiện nay: thôn N ạ, N N, Cát Tiên, Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đoàn thể,: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nông Văn Đàn (đã chết); Con bà: H Th Nh; Vợ: N ThTh (đã ly hôn). Con: 02 người con; Tiền sự: 00; Tiền án: 01, Ngày 30/11/2020, bị cáo bị TAND huyện Cát Tiên, Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/02/2023 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cát Tiên. có mặt tại phiên Tòa

Họ và tên: L Th T S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 03/06/1994; Tại: Quảng Ngãi; HKTT: thôn 6B, B Th, Bù Gia M, B Ph; Chỗ ở hiện nay: thôn N H, N N, C T, Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Cha ruột: Lê Hồng Thời (đã chết); Con bà: Bùi Thị Kim Xuyến; Chồng, con: Chưa có; Tiền án: 00, Tiền sự: 00; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/02/2023 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Cát Tiên. Có mặt tại phiên Tòa.

Người làm chứng:

Ông Đ V T - Sinh năm: 1990 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn N H, xã N N, huyện C Tn, tỉnh Lâm Đồng.

Ông Ngn H H - Sinh năm: 1991 (vắng mặt)

Trú tại: Th H Th, xã G V, huyện C T, tỉnh L Đ.

Ông Ng Q V - Sinh năm: 1993 (vắng mặt)

Trú tại: Th, xã T Hg, huyện C T, tỉnh Lâm Đồng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ ngày 15/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cát Tiên kiểm tra, bắt quả tang tại nhà ở của N V Thmột số đối tượng có hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Qúa trình điều tra xác định được như sau: Bản thân N VTh và L Th T S là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân và ma túy để sử dụng nên vào ngày 12/02/2023, N V Th điều khiển xe mô tô đến thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước gặp 01 người tên Phong (Th không rõ nhân thân, lai lịch, nơi cư trú của Phong) mua 01 bịch ma túy loại Methamphetamine với giá tiền là 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Th đem về phòng ngủ của mình tại thôn Ninh Hạ, Nam Ninh và cùng với Lê Thị Tuyết Sương ngồi phân chia bịch ma túy thành 27 tép ma túy nhỏ, các tép ma túy này được Thắng và Sương đựng trong các đoạn ống nhựa màu trắng, kích thước mỗi tép ma túy là 01cm x 03cm, Th cất giấu 04 tép ma túy vào trong 01 cục gạch xây dựng, loại gạch 06 lỗ tròn, gạch xây dựng thông thường, hình chữ nhật, kích thước 16cm x 17cm x 11cm ở bên hông nhà tắm và lấy 23 tép ma túy bỏ vào trong 01 lọ nhựa màu vàng trắng, loại có nắp đậy, nhãn hiệu BOZYPAINE, Th mang ra khu vực sau chuồng nuôi gà của gia đình cất giấu. 27 tép ma túy này, Thắng cùng Sương sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác.

Khoảng 11 giờ ngày 15/02/2023, Đ V T, SN: 1990 trú tại thôn Ninh Hạ, Nam Ninh sang nhà N V Th hỏi mua của Th 01 tép ma túy loại Methamphetamine, Thắng đồng ý, sau đó Thắng ra khu vực nhà tắm lấy trong cục gạch 01 tép ma túy bán cho Toan, Toan đưa cho Thắng số tiền 300.000 đồng, lúc này Lê Thị Tuyết Sương đi vào phòng thì Thắng đưa số tiền cho Sương cất giữ, Sương cầm tiền và bỏ tiền vào trong túi xách tay cá nhân của mình. Sau đó, Thắng cầm tép ma túy và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của Thắng để dưới gầm giường ngủ mang ra nền nhà, Th mở tép ma túy đổ ma túy vào “nồi” thủy tinh, dùng bật lửa gas đốt nóng ma túy bên trong sau đó đưa lên miệng hút 02 hơi, sau đó Toan lại chỗ bộ dụng cụ dùng miệng hút số ma túy vẫn còn lại, khi Toan và Thắng đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang các đối tượng cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan. Tại cơ quan Công an các đối tượng đã khai nhận hành vi của mình như trên. BL: 09- 11, 145- 201, 218- 258.

Vật chứng thu giữ gồm:

01 cục gạch xây dựng, loại gạch 06 lỗ tròn, gạch xây dựng thông thường, hình chữ nhật, kích thước 16cm x 17cm x 11cm, bên trong lỗ gạch thứ hai từ trái qua phải cất giấu 03 đoạn ống nhựa màu trắng, kích thước 01cm x 03cm, được hàn kín các cạnh, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn; 01 lọ nhựa màu vàng trắng, loại có nắp đậy, nhãn hiệu BOZYPAINE, bên trong đựng 17 đoạn ống nhựa màu trắng, kích thước 01cm x 03cm, được hàn kín các cạnh, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn; 01 ví da, màu nâu, bên trong có 01 thẻ CCCD mang tên N V Th, bên trong ví đựng số tiền 570.000 đồng; 01 túi xách tay, màu nâu đen, loại có dây đeo có khóa kéo, bên trong có 01 giấy CMND (Bản phô tô) mang tên Lê Thị Tuyết Sương và số tiền 1.200.000 đồng; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine gồm 01 vỏ chai nước ngọt nhãn hiếu Sting, bên trong chứa chất lỏng màu trắng, phía trên có nắp đậy được khoan 02 lỗ tròn, 01 lỗ được cắm 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hình tròn, kích thước 0.5 cm x 20 cm và 01 ống thủy tinh màu trắng, hình tròn, một đầu ống có nồi, hình tròn, đã bị bể, ống dài 12cm; 01 bật lửa gas, màu trắng nhãn hiệu HOA VIỆT; 07 cây kéo cắt các loại; 02 dao dọc giấy các loại; 01 loa nghe nhạc bằng nhựa màu đen, loa in chữ LZ-3103; 02 cuộn băng keo; 01 cây thước bằng nhựa màu trắng, nhãn hiệu KIM NGUYÊN; 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG và OPPO, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô BKS 60B4 - 051.80, nhãn hiệu: YAMAHA, loại Sirius, màu đỏ đen; 01 xe mô tô BKS 47F6 - 0592, nhãn hiệu ANGEL, màu đen, số khung: VDNFM90A4R704901; số máy: HY704901. BL: 13- 23, 76- 79. Đối với 20 đoạn ống nhựa màu trắng, kích thước 01cm x 03cm, được hàn kín các cạnh, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cát Tiên tiến hành niêm phong và gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 17/02/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 20 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1.2767g, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ. BL: 71.

Ngoài lần bán ma túy đá cho Đ V T vào chiều ngày 15/02/2023, trước đó NV Th còn bán ma túy loại Methamphetamine cho Ng H H; Ng Q V và Đ V T, các lần cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ ngày 13/02/2023, NgH H đến gặp và mua của NV T01 tép ma túy với số tiền là 300.000 đồng, do không có tiền nên Hưng để lại cho Thắng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, cùng ngày Hưng để lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47F6-0592 và lấy lại chiếc điện thoại cầm trước đó, hẹn đến sáng hôm sau đến trả tiền cho Thắng và lấy xe về nhưng đến nay Hưng không đến trả tiền cho Thắng để lấy xe như đã hẹn. Hưng mang ma túy đi đâu sử dụng hay làm gì Thắng không biết.

Lần thứ hai: Vào khoảng 20 giờ ngày 14/02/2023, Ng Q V hỏi mua của NV Th 01 tép ma túy với số tiền là 300.000 đồng, do V không có xe đến mua ma túy nên nhờ Ng H H đến lấy giúp, sau đó V đã chuyển khoản tiền mua ma túy cho Th vào số tài khoản 0338052062, ngân hàng MB Bank, số tài khoản do Th đứng tên, tép ma túy mua được Hưng mang đi đâu, làm gì Thắng không biết.

Lần thứ ba: Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 14/02/2023 Thắng bán cho Đ VT 01 tép ma túy với số tiền là 300.000 đồng, đến chiều ngày 15/02/2023, Tchuyển khoản trả tiền mua ma túy cho Thắng vào số tài khoản 0338052062, ngân hàng MB Bank, do Th đứng tên, sau đó Toan mượn dụng cụ sử dụng ma túy của Thắng, một mình Toan sử dụng hết bịch ma túy tại phòng ngủ của Thắng.

Tuy 03 lần mua bán ma túy nêu trên Cơ quan điều tra không bắt được quả tang nhưng lời khai giữa Nông Văn Thắng, Lê Thị Tuyết Sương, Nguyễn Hữu Hưng, NgQ V và Đ VT là phù hợp.

Ngoài ra, Nô VThcòn khai nhận vào ngày 15/02/2023, Thắng bán 01 tép ma túy cho một người đàn tên là Hoàng khoảng 50 tuổi, nhà ở thị trấn Cát Tiên, Cát Tiên với số tiền 300.000 đồng.

Bản cáo trạng số 11/CT- VKSCT ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo N V Thg, LTh TSvề tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 251 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa: Bị cáo T, bị cáo S khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng VKS truy tố là đúng không oan sai, bị cáo không có ý kiến gì bản cáo trạng, bị cáo không bào chữa hành vi phạm tội của mình đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh và Điều luật áp dụng đối với các bị cáo đề nghị hội đồng xét xử: Bị cáo N V Th, bị cáo L T T S về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 17; 251 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Về tình tiết giảm nhẹ áp dụng điểm s, r khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS đối bị cáo Thắng, bị cáo Sương điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52BLHS đối bị cáo Thắng; Về hình phạt đề nghị áp dụng Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo N V Th từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù 06 sáu tháng tù; Xử phạt bị cáo L Th T S từ 07 năm tù đến 8 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị xử lý theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đúng về thẩm quyền, trình tự quy định trong bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Trong quá trình điều tra các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai bị cáo tại phiên Tòa số ma tý bị cáo bị bắt quả tang khai ngoài lần bán bị bắt quả tang, bị cáo Th khai nhận bán 04 lần phù hợp lời khai trong hồ sơ vụ án, lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập, bị cáo LThT Scó hành vi giúp sức cho N VTh phân chia ma tý bán cho người khác, Thắng đưa số tiền 300.000đ bán ma tý cho Sương cất giữ. Tại bản kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 17/02/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 20 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1.2767g, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ. Như vậy đủ cơ sở kết luận các bị cáo N V Th, L Th T Sphạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Hành vi phạm tội của các bị cáo N V Th, L Th T S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tý và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Th phạm tội trộm cắp tài sản xử bị TAND huyện Cát Tiên, Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chưa xóa án tiếp tục vi phạm bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, tại phiên Tòa các bị cáo Th, bị cáo S khai nhận ngoài lần phạm tội bắt quả tang những lần phạm tội trước đó bán 04 lần, thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo N V Th có 01 tiền án ngày 30/11/2020 bị TAND huyện Cát Tiên, Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chưa xóa án tích mà tiếp tục vi phạm; Bị cáo L ThT S chưa có tiền án, tiền sự.

Xét về vị trí vai trò từng bị cáo như sau: Bị cáo Th là người mua ma tý, là người bán ma tý, bị cáo Sương hỗ trợ bị cáo Thắng phân ma tý, biết việc bị cáo Thắng bán ma tý không can ngăn, bị cáo Thắng bán mua tý đưa tiền bị cáo S giữ 300.000đ, tuy giữa bị cáo Thắng và bị cáo Sương không bàn bạc nhưng bị cáo S ngầm giúp sức cho bị cáo đây là vụ án đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17, Điều 58 BLHS khi xem xét hình phạt cho từng bị cáo.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2, Điều 251. Điều 17 BLHS năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo N Văn Th mức hình phạt từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm 06 tháng tù, LTh T S từ 07 năm tù đến 08 năm là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét thấy: Nên xử phạt mức hình phạt tương xứng và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung bị cáo Th, S không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Ng H Hư, Ng Q V và Đ VT đã có hành vi mua trái phép chất ma túy sử dụng cho bản thân, hành vi nêu trên của Hưng, Việt và Toan không cấu thành tội phạm Cơ quan điều tra đã tách xử lý riêng nên viện kiểm sát không đề nghị xử lý là phù hợp. Hội đồng xét xử không xem xét

Đối với đàn ông tên Phong mà N V Thg liên hệ mua ma túy, đối người tên Hoàng nhà ở TT Cát Tiên đã có hành vi mua trái phép chất ma túy. Tuy nhiên hiện chưa làm việc Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 570.000đ trong ví da N V Th trong đó có 300.000đ tiền bán ma tý cần tuyên tịch thu sung công quỹ nhà Nước 300.000đ; đối với số tiền thu của Lê Thị Tuyết Sương 1.200.000đ trong đó có 300.000đ tiền bán ma tý cần tuyên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước số tiền 300.000đ; 01 chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu đen, trong điện thoại gắn 01 thẻ sim mang thuê bao số 0338052062, đã qua sử dụng, chất lượng máy bên trong không có điều kiện kiểm tra đây là vật chứng bị cáo dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

Tiền 270.000đ, 01 ví da nam màu nâu, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng, 01 thẻ CCCD mang tên Nông Văn Thắng, số CCCD 070093008768 (thẻ gốc); 01 loa nghe nhạc bằng nhựa màu đen, loa in chữ LZ-3103; 01 xe mô tô BKS 60B4 - 051.80, nhãn hiệu: YAMAHA, loại Sirius, màu đỏ đen, số khung: RLCS5C640BY494424; số máy: 5C64494430, xe đã qua sử dụng, chất lượng máy móc bên trong không có điều kiện kiểm tra. Đây là vật chứng không sử dụng vào việc phạm tội. Hội dồng xét xử xét thấy cần tuyên trả lại cho bị cáo Nông VTh

Tiền 900.000đ; 01 túi xách tay, màu nâu đen, loại có dây đeo có khóa kéo, đã qua sử dụng; 01 giấy CMND số 285411594 mang tên Lê Thị T S (Bản phô tô coppy); 01 chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh rêu, trong điện thoại gắn 01 thẻ sim mang thuê bao số 0366433641, đã qua sử dụng, chất lượng máy bên trong không có điều kiện kiểm đây vật chứng không sử dụng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử cần tuyên trả lại cho bị cáo Sương.

Đối vật chứng gồm: 01 cục gạch, loại gạch 06 lỗ tròn, gạch xây dựng thông thường, hình chữ nhật, kích thước 16cm x 17cm x 11cm; 01 lọ nhựa màu vàng trắng, loại có nắp đậy, nhãn hiệu BOZYPAINE, đã qua sử dụng, bên trong rỗng; 01 vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu STING, bên trong đựng chất lỏng màu trắng, phía trên nắp được khoan 02 lỗ tròn, một lỗ được cắm 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hình tròn, kích thước 0,5cm x 20cm, và một ống thủy tinh màu trắng, hình tròn, một đầu ống có nồi hình tròn đã bị bể vỡ, ống dài 12cm; 03 cây kéo bằng kim loại màu trắng, dài 15cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, có cán cầm bằng nhựa màu nâu đen, dài 15cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, có cán cầm bằng nhựa màu nâu đen, dài 13cm; 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng, nhãn hiệu STAINLESS, dài 09cm; 01 con dao cắt giấy bằng kim loại màu trắng, có cán cầm bằng nhựa màu xanh đen, dài 16cm; 01 con dao cắt giấy bằng kim loại màu trắng, có cán cầm bằng nhựa màu vàng đen, dài 16cm; 01 cuộn băng keo màu đen, nhãn hiệu DEER BRAND, đã qua sử dụng; 01 cuộn băng keo màu vàng, nhãn hiệu USA TAPE; 01 bật lửa gas màu trắng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu HOA VIỆT, bị vỡ phần đầu bật lửa; 01 cây thước bằng nhựa màu trắng, nhãn hiệu Kim Nguyên; 01 phong bì thư màu trắng, mặt trước ghi chữ Bộ Công an – Công an tỉnh Lâm Đồng, số 185/PC09, Vụ Nông Văn Thắng – 1993, thôn Ninh Hạ, xã Nam Ninh, huyện Cát Tiên, Lâm Đồng; QĐTC: 06/QĐ-ĐTHS; ngày 16/02/2023; Bao gói; mặt sau có chữ ký, ghi họ tên của Trần Đức Lương, Nguyễn Văn Chiến, Võ Như Thuận và được đóng 03 dấu tròn phần miệng phong bì niêm phong giáp lai có chữ “Công an tỉnh Lâm Đồng – Phòng kỹ thuật hình sự”; 01 phong bì thư màu trắng, mặt trước ghi chữ Bộ Công an – Công an tỉnh Lâm Đồng, số 185/2023, Vụ Nông Văn Thắng – 1993, thôn Ninh Hạ, xã Nam Ninh,huyện Cát Tiên, Lâm Đồng; QĐTC: 06/QĐ-ĐTHS; ngày 16/02/2023; Hoàn mẫu m= 0,8840 (g); mặt sau có chữ ký, ghi họ tên của Trần Đức Lương, Nguyễn Văn Chiến, Võ Như Thuận và được đóng 03 dấu tròn phần miệng phong bì niêm phong giáp lai có chữ “Công an tỉnh Lâm Đồng – Phòng kỹ thuật hình sự” đây là những vật chứng không có giá trị. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô BKS 47F6-0592, nhãn hiệu ANGEL, màu đen, số khung: VDNFM90A4R704901; Số máy: HY704901 hiện cơ quan điều tra đã yêu cầu xác minh nhưng chưa có kết quả do đó CQĐT tiếp tục xác minh, cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng tách khỏi vụ án. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số tiền 900.000đ thu lợi bất chính NV Thnộp vào ngày 25/5/2023 theo biên lai số 0000323 Chi cục thi hành án dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tự nguyện nộp số tiền Thu lợi cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo N VT, LThT S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điểm h, Điều 52, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa, đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo N V Th08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 16/02/2023

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa, đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo L Th T S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 16/02/2023

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cục gạch, loại gạch 06 lỗ tròn, gạch xây dựng thông thường, hình chữ nhật, kích thước 16cm x 17cm x 11cm; 01 lọ nhựa màu vàng trắng, loại có nắp đậy, nhãn hiệu BOZYPAINE, đã qua sử dụng, bên trong rỗng; 01 vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu STING, bên trong đựng chất lỏng màu trắng, phía trên nắp được khoan 02 lỗ tròn, một lỗ được cắm 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hình tròn, kích thước 0,5cm x 20cm, và một ống thủy tinh màu trắng, hình tròn, một đầu ống có nồi hình tròn đã bị bể vỡ, ống dài 12cm; 03 cây kéo bằng kim loại màu trắng, dài 15cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, có cán cầm bằng nhựa màu nâu đen, dài 15cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, có cán cầm bằng nhựa màu nâu đen, dài 13cm; 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng, nhãn hiệu STAINLESS, dài 09cm; 01 con dao cắt giấy bằng kim loại màu trắng, có cán cầm bằng nhựa màu xanh đen, dài 16cm; 01 con dao cắt giấy bằng kim loại màu trắng, có cán cầm bằng nhựa màu vàng đen, dài 16cm; 01 cuộn băng keo màu đen, nhãn hiệu DEER BRAND, đã qua sử dụng; 01 cuộn băng keo màu vàng, nhãn hiệu USA TAPE; 01 bật lửa gas màu trắng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu HOA VIỆT, bị vỡ phần đầu bật lửa; 01 cây thước bằng nhựa màu trắng, nhãn hiệu Kim Nguyên; 01 phong bì thư màu trắng, mặt trước ghi chữ Bộ Công an – Công an tỉnh Lâm Đồng, số 185/PC09, Vụ Nông Văn Thắng – 1993, thôn Ninh Hạ, xã Nam Ninh, huyện Cát Tiên, Lâm Đồng; QĐTC: 06/QĐ-ĐTHS; ngày 16/02/2023; Bao gói; mặt sau có chữ ký, ghi họ tên của Trần Đức Lương, Nguyễn Văn Chiến, Võ Như Thuận và được đóng 03 dấu tròn phần miệng phong bì niêm phong giáp lai có chữ “Công an tỉnh Lâm Đồng – Phòng kỹ thuật hình sự”; 01 phong bì thư màu trắng, mặt trước ghi chữ Bộ Công an – Công an tỉnh Lâm Đồng, số 185/2023, Vụ Nông Văn Thắng – 1993, thôn Ninh Hạ, xã Nam Ninh,huyện Cát Tiên, Lâm Đồng; QĐTC: 06/QĐ-ĐTHS; ngày 16/02/2023; Hoàn mẫu m= 0,8840 (g); mặt sau có chữ ký, ghi họ tên của Trần Đức Lương, Nguyễn Văn Chiến, Võ Như Thuận và được đóng 03 dấu tròn phần miệng phong bì niêm phong giáp lai có chữ “Công an tỉnh Lâm Đồng – Phòng kỹ thuật hình sự”.

Tuyên trả lại cho N VTh số tiền 270.000đ, 01 ví da nam màu nâu, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng, 01 thẻ CCCD mang tên Nông Văn Thắng, số CCCD 070093008768 (thẻ gốc); 01 loa nghe nhạc bằng nhựa màu đen, loa in chữ LZ-3103; 01 xe mô tô BKS 60B4 - 051.80, nhãn hiệu: YAMAHA, loại Sirius, màu đỏ đen, số khung: RLCS5C640BY494424; số máy: 5C64494430, xe đã qua sử dụng, chất lượng máy móc bên trong không có điều kiện kiểm tra.

Tuyên trả lại cho L ThT S số tiền 900.000đ; 01 túi xách tay, màu nâu đen, loại có dây đeo có khóa kéo, đã qua sử dụng; 01 giấy CMND số 285411594 mang tên L Th T S (Bản phô tô coppy); 01 chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh rêu, trong điện thoại gắn 01 thẻ sim mang thuê bao số 0366433641, đã qua sử dụng, chất lượng máy bên trong không có điều kiện kiểm tra.

Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số 600.000đ; 01 chiếc điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu đen, trong điện thoại gắn 01 thẻ sim mang thuê bao số 0338052062, đã qua sử dụng, chất lượng máy bên trong không có điều kiện kiểm tra.

(Các vật chứng nêu trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cát Tiên đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/5/2023 giữa công an huyện Cát Tiên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cát Tiên).

Tuyên sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 900.000đ N V Th tự nguyện nộp tại biên lai số 0000323 ngày 25/5/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Cát Tiên.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Th, bị cáo S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhân

Cỡ chữ