vanban.org

Bản án 13/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Chí Bc1 và Lâm Thanh Bc2 phạm tội “đánh bạc”.

1- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Chí Bc1 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc Phạm Chí T và Lâm Thanh T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Chí Bc1 và Lâm Thanh Bc2 phạm tội “đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 13/2023/HS-ST
Ngày: 14-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thanh

Ông Lưu Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Minh Tồn - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

1- Phạm Chí Bc1, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1967 tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú ấp KQ B, xã VK, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; giới tính nam; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hóa 3/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; con ông Phạm Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ là Bành Thị M và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án: không; tiền sự: bị Công an xã VK, huyện An Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPVPHC ngày 08/02/2022 về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2- Lâm Thanh Bc2, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1990 tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú ấp KQ B, xã VK, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; giới tính nam; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hóa 10/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; con ông Lâm Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nh; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: bị Công an xã VK, huyện An Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPVPHC ngày 14/4/2021 về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Bc1: Luật sư Võ Quang Th, Văn phòng Luật sư Võ Quang Th chi nhánh Phú Quốc, Đoàn Luật sư tỉnh An Giang, có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

(1) Dương Tú Lq1, sinh năm 1985. Địa chỉ: kp 2, thị trấn T11, huyện An Minh, Kiên Giang, vắng mặt;

(2) Hồ Thị Lq2, 1956. Địa chỉ: kp 1, thị trấn T11, huyện An Minh, Kiên Giang, vắng mặt;

(3) Lê Nhựt Lq3, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp KQ B, xã VK, huyện An Minh, Kiên Giang, vắng mặt;

(4) Trần Nhuận Lq4, 1980. Địa chỉ: kp 1, thị trấn T11, huyện An Minh, Kiên Giang, vắng mặt;

(5) Trần Thị Lq5, sinh năm 1999. Địa chỉ: ấp KQ B, xã VK, huyện An Minh, Kiên Giang, vắng mặt;

(6) Nguyễn Thị Lq6, sinh năm 1972. Địa chỉ: kp 2, thị trấn T11, huyện An Minh, Kiên Giang, xin vắng mặt;

(7) Bành Thị Lq7, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp KQ B, xã VK, huyện An Minh, Kiên Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 16/3/2022, tại ấp KQ B, xã VK, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, Công an xã VK, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bắt quả tang tụ điểm đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền tại nhà bà Bành Thị Lq7. Tiến hành mời 05 đối tượng về Công an xã VK làm việc và thu giữ số tang vật gồm: 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá; 01 (Một) chiếc chiếu đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan Công an các đối tượng khai nhận:

Khoảng 11 giờ ngày 16/3/2022, các đối tượng gồm: Phạm Chí Bc1, Lâm Thanh Bc2, Nguyễn Ngọc lq8, Lê Nhựt Lq3, Dương Tú Lq1, Hồ Thị Lq2, Trần Nhuận Lq4, Trần Thị Lq5 và Nguyễn Thị Lq6 cùng nhau chơi đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền tại nhà bà Bành Thị Lq7. Cách thức chơi là sẽ có một người làm cái chia cho mỗi người 03 lá bài sau đó đếm nút, ai nhiều nút hơn sẽ thắng (tương ứng từ 09 đến 01 nút), riêng 03 lá bài hình Tây là lớn nhất, nếu 03 lá bài cộng lại 10 nút (gọi là bù) là nhỏ nhất, mỗi tụ đặt thấp nhất là 30.000 đồng cao nhất là 300.000 đồng, ngoài đặt tụ thì các đối tượng còn cá cược bằng hình thức bắt cái lời, cái lỗ. Bài tây 52 lá dùng để chơi là do bà Bành Thị Lq7 cung cấp và thu tiền xâu, cứ 03 ván làm cái thì đổi bài bà Lq7 thu 20.000 đồng, người chơi bỏ tiền vào rổ. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Công an đến bắt quả tang.

Qua điều tra xác định, các đối tượng Lê Nhựt Lq3, Nguyễn Ngọc Diễm, Trần Thị Lq5 và Nguyễn Thị Lq6 đánh bạc trái phép ăn thua với số tiền không lớn, các đối tượng mới vi phạm lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự, nên Công an xã VK và Công an huyện An Minh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” theo quy định điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/NĐ-CP và điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Đối với Bành Thị Lq7 Công an huyện An Minh đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện An Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” và “Tổ chức các hoạt động cá cược ăn tiền trái phép” theo quy định điểm a khoản 2 và điểm d khoản 4 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Đối với Dương Tú Lq1, Hồ Thị Lq2, Trần Nhuận Lq4, trước đó vào ngày 11/3/2022 đã bị Công an thị trấn T11 bắt quả tang về hành vi đánh bạc trái phép và đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự trong một vụ án khác.

Riêng đối với Phạm Chí Bc1 và Lâm Thanh Bc2 qua thẩm tra xác minh tiền án, tiền sự xác định: Trước đó Phạm Chí Bc1 đã bị Công an xã VK ra quyết định xử phạt VPHC số 03/QĐ-XPVPHC ngày 08/02/2022 về hành vi “Đánh bạc trái phép” với số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành nộp phạt xong (Bút lục 138, 139); Lâm Thanh Bc2 đã bị Công an xã VK ra quyết định xử phạt VPHC số 36/QĐ-XPVPHC ngày 14/4/2021 về hành vi “Đánh bạc trái phép” với số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành nộp phạt xong. Đến ngày 16/3/2022, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì lại tiếp tục vi phạm.

Tại cơ quan điều tra, bị can Phạm Chí Bc1, bị can Lâm Thanh Bc2 và các đối tượng thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép vào ngày 16/3/2022, khi đi đánh bạc bị can Bc1 mang theo số tiền 200.000 đồng, chơi thua hết 170.000 đồng; bị can Bc2 mang theo số tiền 2.000.000 đồng và chơi thua hết. Số tiền dùng để đánh bạc của Dương Tú Lq1 là 50.000 đồng, Hồ Thị Lq2 là 120.000 đồng, Lê Nhựt Lq3 là 150.000 đồng, Trần Nhuận Lq4 là 200.000 đồng, Trần Thị Lq5 là 500.000 đồng và Nguyễn Thị Lq6 là 350.000 đồng. Riêng bà Lq7 đến thời điểm bị bắt quả tang chưa thu được tiền xâu.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Minh đã thu giữ số vật chứng gồm: 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá; 01 (Một) chiếc chiếu đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS-AM ngày 17/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Phạm Chí Bc1 và Lâm Thanh Bc2 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Bc1, Bc2 phạm tội Đánh bạc. Đề nghị áp dụng điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 321 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bc1 từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 321 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo Bc2 từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo; về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định.

- Bị cáo Bc1, Bc2 thừa nhận bản thân thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo Bc1: thống nhất với tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và hình phạt đưa ra đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo đã tự chấm dứt hành vi đánh bạc trước khi bị bắt nên tính nguy hiểm cho xã hội không cao; đề nghị xử phạt mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Thấy họ đã có lời khai, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Tại phiên tòa bị cáo Bc1 và Bc2 đã khai nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác. Từ đó, có đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Phạm Chí Bc1 và bị cáo Lâm Thanh Bc2 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì lại tiếp tục vi phạm.

Vào ngày 16/3/2022, tại ấp KQ B, xã VK, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bị cáo Phạm Chí Bc1 và bị cáo Lâm Thanh Bc2 có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài cào 03 lá thắng thua bằng tiền, bị Công an xã VK bắt quả tang.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Bc1 và Bc2 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Các bị cáo đã trực tiếp đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài cào 3 lá được thua bằng tiền; số tiền đánh bạc là 3.572.000 đồng (gồm tiền dùng để đánh bạc của Bc1 200.000 đồng, của Bc2 2.000.000 đồng, của Dương Tú Lq1 50.000 đồng, của Hồ Thị Lq2 120.000 đồng, của Lê Nhựt Lq3 150.000 đồng, của Trần Nhuận Lq4 200.000 đồng, của Trần Thị Lq5 500.000 đồng, Nguyễn Thị Lq6 350.000 đồng). Tuy số tiền đánh bạc của bị cáo Bc1 và Bc2 dưới 5.000.000 đồng nhưng các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tính đến ngày vi phạm chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Phạm Chí Bc1 và Lâm Thanh Bc2 phạm tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình trong nhân dân. Bị cáo Bc1, Bc2 đã bị xử phạt về hành vi đánh bạc, lại tiếp tục vi phạm. Tuy tình tiết này đã được dùng làm căn cứ định tội nhưng cho thấy các bị cáo chưa quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, chưa chấp hành tốt pháp luật. HĐXX thấy cần có hình thức xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, sau khi bị khởi tố, điều tra về hành vi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Bc1 là con liệt sỹ, đã nộp lại số tiền dùng để đánh bạc, hành vi của bị cáo do đấu tranh khai thác, bị cáo thừa nhận (vì khi Công an bắt bị cáo đã chấm dứt hành vi đánh bạc). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tỏ rõ thái độ quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, tính chất phạm tội giản đơn, số tiền đánh bạc ít, tình tiết nhân thân xấu đã dùng làm căn cứ định tội nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. HĐXX thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến người bào chữa, áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng và tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, hòa nhập cộng đồng. Thấy các bị cáo có thu nhập không ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập trong giai đoạn thi hành án.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định mức phạt có xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh và khả năng thi hành án của bị cáo.

Về biện pháp tư pháp,

+ Đối với 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá; 01 (Một) chiếc chiếu đã qua sử dụng, thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với số tiền 150.000 đồng thu trên chiếu bạc được tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền dùng để đánh bạc trái phép của bị cáo Phạm Chí Bc1 là 30.000 đồng, của các đối tượng Dương Tú Lq1 là 50.000 đồng, Hồ Thị Lq2 là 120.000 đồng, Lê Nhựt Lq3 là 150.000 đồng, Trần Nhuận Lq4 là 200.000 đồng, Trần Thị Lq5 là 500.000 đồng và Nguyễn Thị Lq6 là 350.000 đồng được tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí, bị cáo Bc1, Bc2 phải chịu án phí theo quy định.

Đối với những người có liên quan: Đối với Trần Nhuận Lq4, Dương Tú Lq1, Hồ Thị Lq2 đã được xử lý trong vụ án khác xong; đối với người còn lại chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện An Minh đã xử phạt là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Chí Bc1 và Lâm Thanh Bc2 phạm tội “đánh bạc”.

1.1- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Chí Bc1 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

1.2- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Thanh Bc2 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

1.3- Giao bị cáo Bc1 và bị cáo Bc2 cho Ủy ban nhân dân xã VK, huyện An Minh, Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Bc1, Bc2 trong giai đoạn thi hành án.

1.4- Về hình phạt bổ sung: căn cứ khoản 3 Điều 321 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Bc1, Bc2 mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

2- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với Số tiền 150.000 đồng thu trên chiếu bạc (cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản 3949.0.1055016.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh vào ngày 25/5/2022) và số tiền dùng để đánh bạc trái phép của bị cáo Phạm Chí Bc1 là 200.000 đồng (bị cáo Bc1 đã tạm nộp tại Biên lai thu số 0003875 ngày 23/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh), của các đối tượng Dương Tú Lq1 là 50.000 đồng, Hồ Thị Lq2 là 120.000 đồng, Lê Nhựt Lq3 là 150.000 đồng, Trần Nhuận Lq4 là 200.000 đồng, Trần Thị Lq5 là 500.000 đồng và Nguyễn Thị Lq6 là 350.000 đồng (buộc những người này nộp lại số tiền tịch thu để sung công quỹ nhà nước).

+ Tịch thu tiêu hủy đối với 02 (Hai) bộ bài tây 52 lá; 01 (Một) chiếc chiếu đã qua sử dụng. (Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang bảo quản theo quyết định chuyển giao vật chứng số 38/QĐ-VKS-AM ngày 17/10/2022 của VKSND huyện An Minh).

3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bc1, Bc2 mỗi bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4- Bị cáo đều có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14-3-2023). Những người có liên quan vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ