vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Linh Ph, cho chị Lâm Thị Linh Ph được ly hôn với anh Trương Văn Ch.

Về con chung: Giao con chung tên Trương Nhật Ý Th, sinh ngày 23/05/2011 và Trương Phương L, sinh ngày 24/12/2019 cho chị Linh Ph tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi cũng là phù hợp theo nguyện vọng của cháu Trương Nhật Ý Th muốn sống chung với chị Linh Ph. Anh Trương Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Linh Ph, cho chị Lâm Thị Linh Ph được ly hôn với anh Trương Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
HUYỆN TIỂU CẦN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-02-2023
“Về tranh chấp ly hôn, nuôi con ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

2. Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2023/QĐST - HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Linh Ph, sinh năm 1984; (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Phú Thọ , xã Hiếu Tr, huyện TC, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Anh Trương Văn Ch, sinh năm 1984 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp Tân Trung Gi B, xã Hiếu Tr, huyện TC, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/9/2022 và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt gửi đến Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần nguyên đơn chị Lâm Thị Linh Ph trình bày:

Vào năm 2010 chị có xác lập quan hệ vợ chồng với anh Trương Văn Ch và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiếu Trung vào tháng 02/2010. Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 người con chung tên Trương Nhật Ý Th, sinh ngày 23/05/2011và Trương Phương L, sinh ngày 24/12/2019,hiện hai con chung đang sống chung với chị.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị Linh Ph khai do anh Trương Văn Ch không lo cho gia đình vợ con, thường xuyên ăn nhậu với bạn bè, chị có khuyên nhiều lần nhưng không sửa đổi và vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2022 cho đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Văn Ch.

Về con chung: Chị Lâm Thị Linh Ph khai có hai con chung chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Trương Nhật Ý Th, sinh ngày 23/05/2011 và Trương Phương L, sinh ngày 24/12/2019 đến đủ 18 tuổi và chị không yêu cầu anh Chọn phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Linh Ph khai không có nên chị không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Con chung Trương Nhật Ý Th, sinh ngày 23/05/2011 trình bày: Cha cháu tên Trương Văn Ch và mẹ cháu tên Lâm Thị Linh Ph, nay cha mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng theo mẹ cháu và muốn sống chung với mẹ cháu là bà Lâm Thị Linh Ph.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Linh Ph đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ sau đây: 01 (một) căn cước công dân của chị Lâm Thị Linh Ph (Có đối chiếu đúng với bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận kết hôn (bản chính) số: 21 quyển số: 01 ngày 22/02/2010 của Ủy ban nhân dân xã Hiếu Trung cấp; 01 (một) giấy khai sinh của con chung tên Trương Nhật Ý Th (bản phô tô); 01 (một) trích lục khai sinh của con chung tên Trương Phương L (bản phô tô).

Đối với bị đơn anh Trương Văn Ch sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần 1 vào ngày 14/02/2023; lần 2 vào ngày 27/02/2023 hợp lệ cho anh Trương Văn Ch nhưng anh Trương Văn Ch vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng và Tòa án cũng không thể tiến hành lấy lời khai của anh Trương Văn Ch được nên không thể xác định được những tình tiết nào của vụ án mà các bên đã thống nhất và không thống nhất. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định;

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét thấy đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Linh Ph xin ly hôn anh Trương Văn Ch nên đây là vụ kiện “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con ” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn anh Trương Văn Ch có nơi cư trú rõ ràng trên địa bàn huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lâm Thị Linh Ph có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Bị đơn anh Trương Văn Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh Chọn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trương Văn Ch.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Linh Ph và anh Trương Văn Ch xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiếu Trung theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của chị Linh Ph và anh Trương Văn Ch là hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến anh chị sống ly thân từ tháng 03 năm 2022 cho đến nay. Tại hồ sơ vụ án, chị Linh Ph xác định giữa chị và anh Trương Văn Ch không còn tình cảm thương yêu, quý trọng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nếu có duy trì thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án chấp nhận cho chị Lâm Thị Linh Ph được ly hôn với anh Trương Văn Ch.

Đối với con chung: Do chị Linh Ph khai có hai con chung tên Trương Nhật Ý Th, sinh ngày 23/05/2011 và Trương Phương L sinh ngày 24/12/2019 hiện đang sống chung với chị Linh Ph. Chị Linh Ph yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trương Nhật Ý Th, sinh ngày 23/05/2011 và Trương Phương L, sinh ngày 24/12/2019 đến đủ 18 tuổi. Bởi vì từ lúc ly thân đến nay cháu Th và cháu Lam luôn chung sống với chị Linh Ph và chị Linh Ph không yêu cầu anh Trương Văn Ch cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy nên giao cháu Trương Nhật Ý Th và Trương Phương L cho chị Linh Ph tiếp tục nuôi dưỡng cũng là phù hợp về sự phát triển về thế chất và tinh thần cho cháu Th và cháu Lam và cũng là phù hợp theo nguyện vọng của cháu Th muốn sống chung với chị Linh Ph. Hội đồng xét xử có giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng chị Linh Ph không yêu cầu anh Trương Văn Ch cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lâm Thị Linh Ph khai chị và anh Trương Văn Ch không có nợ chung và tài sản chung. Do Tòa án không thể làm việc trực tiếp với anh Trương Văn Ch để biết được ý kiến của anh Trương Văn Ch như thế nào về tài sản chung và nợ chung giữa anh Trương Văn Ch và chị Linh Ph hay không. Vì vậy, nếu sau khi ly hôn anh Trương Văn Ch có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung với chị Linh Ph thì anh Trương Văn Ch được quyền khởi kiện vụ án tranh chấp chia tài sản chung và nợ chung sau khi ly hôn với chị Linh Ph.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lâm Thị Linh Ph phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56 , 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Linh Ph, cho chị Lâm Thị Linh Ph được ly hôn với anh Trương Văn Ch.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trương Nhật Ý Th, sinh ngày 23/05/2011 và Trương Phương L, sinh ngày 24/12/2019 cho chị Linh Ph tiếp tục nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi cũng là phù hợp theo nguyện vọng của cháu Trương Nhật Ý Th muốn sống chung với chị Linh Ph. Anh Trương Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Linh Ph không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lâm Thị Linh Ph khai không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Nếu sau khi ly hôn anh Trương Văn Ch có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung với chị Lâm Thị Linh Ph thì anh Trương Văn Ch được quyền khởi kiện vụ án tranh chấp tài sản chung và nợ chung sau khi ly hôn với chị Lâm Thị Linh Ph.

4. Về án phí: Chị Lâm Thị Linh Ph phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011620 ngày 17/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, như vậy chị Linh Ph đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ