- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ph - Gi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ph.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13/7/2023 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Công Hiến.
Ông Phạm Văn Tăng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 về việc “Trông chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày 02 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Thị Ph, sinh năm 1965; Nơi cư trú: xóm 4 LS, xã GP, huyện GV, tỉnh NB.
- Bị đơn: ông Phạm Văn Gi, sinh năm 1963; Nơi cư trú: xóm 4 LS, xã GP, huyện GV, tỉnh NB.
Bà Ph vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Gi vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 12 năm 2022, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Ph trình bày: Bà và ông Phạm Văn Gi được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/9/1988 tại UBND xã GP, huyện GV, tỉnh NB. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, cả hai thường xuyên to tiếng cãi cọ nhau. Ông Gi lại có quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn nên bà và ông Gi đã sống ly thân nhau hoàn toàn từ năm 1990 cho đến nay; hai vợ chồng ít liên lạc hay gặp gỡ và không ai quan tâm đến ai. Hiện nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải hàn gắn được nên bà làm đơn đề nghị tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn Gi.
Về con chung: Bà Lê Thị Ph và ông Phạm Văn Gi có một con chung là Phạm Thi Huyền Tr, sinh năm: 1990. Hiện nay, chị Trang đã lập gia đình riêng, có đủ khả năng tự lao động nuôi sống bản thân nên bà Ph không có yêu cầu đề nghị gì về vấn đề con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Bà Lê Thị Ph và ông Phạm Văn Gi không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, thông báo hợp lệ văn bản tố tụng nhưng ông Gi đã không đến Tòa án làm việc.
Toà án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ tại xóm 4 Lỗi Sơn, xã Gia Phong; tại UBND xã GP; xác minh nơi cư trú tại công an xã Gia Phong; kết quả xác nhận: ông Phạm Văn Gi có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn xóm 4 LS, xã GP, huyện GV, tỉnh NB; bà Ph hiện không chung sống cùng ông Gi. Đại diện cán bộ xóm 4 Lỗi Sơn cung cấp sau khi kết hôn bà Ph và ông Gi chung sống với nhau tại xóm 4 LS, xã GP, huyện GV, tỉnh NB được một thời gian, do không hợp nhau nên ông Gi và bà Ph đã sống ly thân nhau khoảng hơn ba mươi năm nay. Khi mâu thuẫn xảy ra thì bà Ph và ông Gi không nhờ cơ sở thôn hòa giải. Trong quá trình chung sống thì bà Ph và ông Gi có một con chung tên là Phạm Thị Huyền Tr, sinh năm 1990. Hiện nay chị Tr đã có gia đình riêng và tự chăm lo cho cuộc sống của mình.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Ph vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Văn Gi vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn trình bày ý kiến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung bà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Xử cho bà Lê Thị Ph được ly hôn ông Phạm Văn Gi; Về án phí sơ thẩm: Bà Ph phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị Ph khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Ly hôn với bị đơn là ông Phạm Văn Gi có nơi cư trú tại: xã GP, huyện GV, tỉnh NB. Quá trình tố tụng, vụ việc được chuyển sang thủ tục hòa giải đối thoại tại Tòa án, tuy nhiên việc hòa giải, đối thoại đã chấm dứt theo khoản 3 Điều 40 Luật Hòa giải Đối thoại tại Tòa án. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177; Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự cho ông Phạm Văn Gi. Ông Phạm Văn Gi vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.
Ông Phạm Văn Gi vắng mặt không có lý do lần thứ 2 tại phiên tòa, bà Lê Thị Ph có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Ph và ông Phạm Văn Gi được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã GP, huyện GV, tỉnh NB vào ngày 20/9/1988. Việc kết hôn của bà Ph, ông Gi đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân của bà Lê Thị Ph và ông Phạm Văn Gi là hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định quá trình chung sống bà Ph và ông Gi hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống và cách sống của hai vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng lại không chung sống cùng nhau trong thời gian dài, dẫn đến tình cảm phai nhạt dần. Thực tế bà Ph và ông Gi đã sống ly thân hoàn toàn, không ai quan tâm đến ai trong thời gian rất dài hơn 30 năm. Ông Gi mặc dù đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng của Tòa án, đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án làm việc, hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng ông Gi không hợp tác, không tham gia các buổi làm việc, hòa giải. Như vậy, chứng tỏ ông Gi không có thiện chí, không hợp tác để Tòa án hòa giải mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng.
Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Lê Thị Ph và ông Phạm Văn Gi đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Ph.
Về con chung: Qua trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ xác định bà Ph và ông Gi có một con chung là Phạm Thị Huyền Tr, sinh năm: 1990. Hiện nay chị Tr đã có gia đình riêng, tự chăm lo cho cuộc sống của mình. Bả Ph không có yêu cầu đề nghị gì về con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết là phù hợp.
Về tài sản và công nợ chung: bà Ph xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết; ông Gi vắng mặt không có ý kiến gì vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.
Về án phí: Bà Lê Thị Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ph.
1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho bà Lê Thị Ph và được ly hôn ông Phạm Văn Gi.
2. Về con chung: Con chung đã trên 18 tuổi, trưởng thành tự lập, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lê Thị Ph phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Ph đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân huyện Gia Viễn theo biên lai số AA/2021/0004227 ngày 21/12/2022.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư-ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình - VKSND huyện Gia Viễn; - Chi cục THADS huyện Gia Viễn; - UBND xã Gia Phong; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Hoàng Giáp |