- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vũ Thị N xin ly hôn anh Vũ Minh H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG ------------------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/6/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Giang.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trung và bà Nguyễn Thị Phương Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện Gia Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/5/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1997; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn ĐX, xã ĐX, huyện GL, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn TH, xã TV, huyện BG, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Vũ Minh H, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn ĐX, xã ĐX, huyện GL, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Chị với anh H được tự do tìm hiểu nhau trong khoảng 5 – 6 năm, thì được hai bên gia đình đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 16/11/2020 tại UBND xã ĐX. Sau khi cưới thì vợ chồng sống với gia đình nhà chồng tại thôn ĐX khoảng 5-6 tháng. Ngay sau khi kết hôn, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn do khác biệt cách sống, quan điểm, anh H không chịu làm ăn nên vợ chồng lục đục, không hòa hợp. Sau đó, vợ chồng sang thôn C, xã LX, huyện BG thuê nhà để mở cửa hàng và sinh sống tại đây. Thời gian này vợ chồng lại tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn do khác biệt về quan điểm, cách sống, anh H mặc dù mở cửa hàng nhưng vẫn không chịu tu chí, không quan tâm đến việc buôn bán như thế nào mà lúc nào cũng chơi game, mặc vợ dọn dẹp, cơm nước mặc dù lúc đó chị đang mang thai. Do đó, chị nhiều lần cãi nhau với anh H, không khí gia đình luôn căng thẳng, nặng nề, cuộc sống không có hạnh phúc, mỗi lần cãi nhau là 2 vợ chồng mỗi người sống một nơi, một thời gian sau lại quay về. Hai bên gia đình cũng biết vợ chồng mâu thuẫn nên khuyên can, hòa giải. Mâu thuẫn giữa vợ chồng căng thẳng nhất là sau khi chị sinh con, do chồng không quan tâm, chăm sóc vợ con sau sinh, nên vợ chồng mâu thuẫn, anh H bỏ về nhà đẻ, chị về nhà ngoại mặc dù mới sinh. Vợ chồng sống mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai một thời gian dài. Khoảng tháng 6/2022, hai bên gia đình hòa giải nên vợ chồng chị quay lại nhưng vợ chồng vẫn sống mỗi người một nơi, anh H chỉ thỉnh thoảng sang thăm vợ con chứ không ở lại, hoặc chị sang nhà chồng chơi mấy hôm chứ cũng không ở lại. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng lại tiếp tục nảy sinh và căng thẳng nhất là vào mùng 3 tết âm lịch năm 2023, nguyên nhân do khác biệt về quan điểm nên vợ chồng cãi nhau rất lớn, anh H bỏ về nhà chồng, từ đó vợ chồng không liên lạc với nhau. Từ đó đến nay, vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Đến nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Vũ Mạnh C, sinh ngày 22/8/2021, hiện nay đang do chị nuôi dưỡng, khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi.Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho hai bên gia đình: chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bị đơn trình bày: Anh với chị N được tự do tìm hiểu nhau trong khoảng 5 – 6 năm và đăng ký kết hôn vào ngày 16/11/2020 tại UBND xã ĐX. Sau khi cưới thì vợ chồng sống với gia đình nhà chồng tại thôn ĐX khoảng 3 tháng, sau đó sang thôn C, xã LX, huyện BG thuê nhà để mở cửa hàng và sinh sống tại đây, thời gian này vợ chồng cũng chỉ có những mâu thuẫn nhỏ do khác biệt về quan điểm, cách sống. Tuy nhiên, sau khi chị N sinh con thì mâu thuẫn giữa vợ chồng căng thẳng do quan điểm sống bất đồng, cách sống khác biệt, chị N muốn anh phải sống theo ý của mình nên vợ chồng mâu thuẫn, mỗi lần như vậy thì mỗi người lại sống một nơi, tuy nhiên hai bên gia đình hòa giải lại quay về với nhau. Cách đây khoảng 01 năm, vợ chồng mâu thuẫn nên anh trả nhà thuê và về nhà bố mẹ, còn chị N về nhà ngoại, vợ chồng mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng chặn liên lạc. Khoảng tháng 6, tháng 7 năm 2022, vợ chồng được hai bên gia đình, bạn bè động viên nên quay về với nhau nhưng mỗi người vẫn sống một nơi, thỉnh thoảng mới gặp nhau. Khoảng vào mùng 3 tết âm lịch năm 2023, vợ chồng lại mâu thuẫn căng thẳng nguyên nhân do chị N yêu cầu anh phải ăn mặc theo ý chị ấy nhưng anh không đồng ý nên chị ấy chửi và xúc phạm đến anh, mặc dù anh đã kìm chế nhưng chị ấy chửi rất nặng nề, do vậy anh bỏ về nhà không liên lạc với chị N nữa. Từ đó đến nay, vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Tuy nhiên đến nay, anh không đồng ý ly hôn vì con của vợ chồng còn nhỏ nên đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, cùng nuôi dạy con cái. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Mạnh C, sinh ngày 22/8/2021, hiện nay đang do chị N nuôi dưỡng, nếu trường hợp vợ chồng phải ly hôn thì anh đồng ý để chị N tiếp tục nuôi con, chị N không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con thì anh đồng ý. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho hai bên gia đình: anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo biên bản lấy lời khai ông Vũ Đình T (là bố đẻ của chị N) cung cấp: Chị N và anh H được tự tìm hiểu nhau, tự nguyện kết hôn vào năm 2020. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chị N sinh sống với gia đình nhà chồng khoảng 5-6 tháng, sau đó vợ chồng chị N lại sang thôn C, xã LX, huyện BG thuê nhà để mở cửa hàng và sinh sống tại cửa hàng này. Sau khi chị N sinh con được hơn 10 ngày thì chị N đưa con về nhà ông sinh sống từ đó đến nay, còn anh H chỉ thỉnh thoảng sang thăm con và lại về ngay chứ không ở lại. Trong cuốc sống vợ chồng chị N theo ông được biết là có nhiều mâu thuẫn, ngay từ sau khi cưới thì vợ chồng đã mâu thuẫn do khác biệt về tính cách, quan điểm nên không có tiếng nói chung, anh H ham chơi không chịu làm ăn nên vợ chồng mâu thuẫn. Sau khi sang Cậy thuê cửa hàng làm ăn thì mâu thuẫn giữa anh chị ấy vẫn tiếp diễn với những nguyên nhân trên, vợ chồng cãi nhau, giận dỗi mấy ngày mới quay về, do đó cuộc sống vợ chồng anh chị ấy luôn căng thẳng, nặng nề. Gia đình ông cũng đã hòa giải cho anh chị ấy nhưng không thành. Thời gian chị N ở nhà ông thì anh H thỉnh thoảng sang thăm nhưng chỉ một lúc là về. Khi con của chị N được 01 tuổi thì ông không thấy anh H đến thăm con nữa, khoảng 06 tháng sau thì chị N nói do vợ chồng chị ấy mâu thuẫn căng thẳng, cãi nhau, xúc phạm nhau nên muốn ly hôn với anh H. Khi biết việc này, gia đình ông khuyên giải chị N suy nghĩ lại, vợ ông khuyên giải anh H, do vậy anh H sang nhà xin lỗi chị N và xin cho cơ hội làm lại. Sau đó, vợ chồng chị N quay về với nhau, tuy nhiên chị N và con vẫn sống ở nhà tôi, anh H chỉ thỉnh thoảng sang thăm vợ con nhưng thỉnh thoảng vợ chồng vẫn cãi nhau. Đến khoảng mùng 3 tết âm lịch năm 2023, mâu thuẫn giữa anh chị ấy lại căng thẳng chỉ do quan điểm trái ngược nên cãi nau, từ đó đến nay vợ chồng mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Anh H từ đó đến nay không sang thăm vợ thăm con nữa.
Theo biên bản lấy lời khai bà Đoàn Thị N1 (là mẹ đẻ của anh H) cung cấp: Anh H và chị N được tự do tìm hiểu nhau trong một khoảng thời gian thì được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2020. Sau khi cưới, anh chị ấy sống với gia đình nhà bà tại thôn ĐX khoảng 03 – 04 tháng thì xin phép sang thôn C, xã LX, huyện BG thuê nhà để mở cửa hàng và sinh sống tại đây. Trong thời gian sinh sống với gia đình bà thì anh chị ấy cũng có mâu thuẫn trong quan điểm sống, tính cách. Khi sang thuê cửa hàng thì bà cũng biết anh chị ấy có mâu thuẫn, tuy nhiên bà không được chứng kiến, anh H cũng kể với bà về việc mâu thuẫn, vợ chồng cãi nhau nên đã đập bát đĩa mà bà đã mua cho anh chị ấy khi ra ở riêng. Bà cũng khuyên bảo và hòa giải cho vợ chồng anh H. Chị N cũng kể với bà những khi mâu thuẫn thì anh H bỏ đi mấy ngày, sau đó lại về. Sau khi chị N sinh con thì về nhà ngoại ở, còn anh H lại về sống với gia đình bà, nguyên nhân do vợ chồng mâu thuẫn. Đến giữa năm 2022, gia đình bà biết chị N có ý định làm đơn ly hôn với anh H nên khuyên giải và vợ chồng quay lại với nhau. Sau đó, anh H và chị N lại hòa thuận, vui vẻ nhưng chị N không về nhà bà mà vẫn sinh sống bên nhà ngoại, còn anh H vẫn sống tại nhà bà, thỉnh thoảng sang thăm vợ con. Khoảng mùng 3 tết (âm lịch) năm 2023 thì anh H cho chị N về bên nhà ngoại, khi đi thì vui vẻ, nhưng khi về thì anh H không vui, bà hỏi lý do tại sao thì anh ấy không nói. Sau đó chị N không liên lạc với gia đình bà nữa, bà có hỏi thì anh H cũng không nói lý do tại sao, bà cũng chỉ thấy anh H buồn bã, chán nản. Từ đó đến nay, vợ chồng mỗi người một nơi.
Theo biên bản xác minh tại UBND xã ĐX, huyện GL cung cấp: Chị Vũ Thị N và anh Vũ Minh H có đăng ký kết hôn vào ngày 16/11/2020 tại UBND xã ĐX. Sau khi kết hôn, chị N và anh H về chung sống tại gia đình nhà chồng tại thôn ĐX một thời gian ngắn, sau đó vợ chồng chuyển sang BG sinh sống. Theo địa phương được biết thì vợ chồng chị N anh H có mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thế nào thì không năm được, chỉ thấy từ lâu vợ chồng không chung sống với nhau, anh H sống với bố mẹ tại thôn ĐX, chị N và con sống tại BG.
Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn có mặt và giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Gia Lộc phát biểu quan điểm xác định những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị TAND huyện Gia Lộc áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Vũ Minh H. Về con chung: Giao con Vũ Mạnh C, sinh ngày 22/8/2021 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con của chị N. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình (HNGĐ) sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn là anh Vũ Minh H cư trú tại xã ĐX, huyện G GL, tỉnh Hải Dương nên yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị N theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Gia Lộc.
Về yêu cầu xin ly hôn: Chị Vũ Thị N và anh Vũ Minh H được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 16/11/2020 tại UBND xã ĐX, huyện GL, tỉnh Hải Dương nên là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào các lời khai của chị N, anh H, biên bản xác minh và các lời khai của những người làm chứng xác định vợ chồng chị N anh H có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách, các làm ăn kinh tế nên vợ chồng hay cãi nhau. Mặc dù được gia đình hai bên gia đình hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn nảy sinh, nhiều lần mỗi người sống một nơi. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023, mỗi người một nơi, không liên lạc, không ai quan tâm đến ai. Đến nay, chị N vẫn kiên quyết xin ly hôn, không muốn đoàn tụ, anh H không đồng ý ly hôn chỉ vì con còn nhỏ muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Tòa án đã cho anh chị thời gian để hòa giải nhưng không khắc phục được mà càng căng thẳng hơn. Từ những phân tích trên, HĐXX thấy rằng tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị N anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, xử cho chị N được ly hôn anh H là phù hợp thực tế và các quy định của Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Vũ Mạnh C, sinh ngày 22/8/2021. HĐXX xét thấy, cháu Cường còn nhỏ (chưa đủ 03 tuổi), từ trước đến nay chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hơn nữa anh chị đều thống nhất để chị N trực tiếp nuôi dưỡng con. Do vậy, giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, xét đây là sự tự nguyện của chị nên HĐXX chấp nhận.
Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự đều không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu cả án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
2. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị N: Xử cho chị Vũ Thị N ly hôn anh Vũ Minh H.
- Về con chung: Giao con Vũ Mạnh C, sinh ngày 22/8/2021 cho chị Vũ Thị N tiếp tục nuôi dưỡng, kể từ tháng 6/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H trong viê ̣c thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo du ̣c con chung.
- Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số AA/2020/0000860 ngày 23/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lộc. Chị N đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Gia Lộc; - Chi cục THADS huyện Gia Lộc; - Các đương sự; - UBND xã ĐX, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Thị Giang |