- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai Thanh K khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn anh Nguyễn Minh Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai Thanh K đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST Ngày 06-6-2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thế Kỳ.
2. Bà Lê Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Vân - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tinh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tuấn - Kiểm Sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại phòng xử án, Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 37/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Thôn 4, xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N - có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm: 1984.
Địa chỉ: Thôn 4, xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai Thanh K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 26/9/2006, chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, thời gian gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, không cùng quan điểm sống dẫn đến không thông cảm cho nhau. Chị K và anh T đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2021 đến nay. Nay chị K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T có 02 con chung là Nguyễn Minh Thanh V, sinh ngày 24/9/2006 và Nguyễn Tiến A, sinh ngày 19/5/2011; Nguyện vọng của K sau khi ly hôn được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung đến đủ tuổi trưởng thành là 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K không yêu cầu anh Nguyễn Minh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K tự nguyện nộp toàn bộ án phí theo quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Nguyễn Minh T để giải quyết vụ án nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại Công an xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N thì anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện tại đang sinh sống tại Thôn 4, xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N. Toà án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh T từ chối nhận nên không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng nêu trên. Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng và triệu tập anh T đến Tòa án giải quyết vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con với chị Nguyễn Thị Mai Thanh K nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên toà, Toà án đã triệu tập hợp lệ chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T tham gia phiên toà nhưng chị K vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Chị K đã có lời khai đầy đủ trong quá trình giải quyết vụ án, việc vắng mặt chị K và anh T không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Đắk R’Lấp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai Thanh K đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Minh Thanh V, sinh ngày 24/9/2006 và Nguyễn Tiến A, sinh ngày 19/5/2011 cho chị Nguyễn Thị Mai Thanh K được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ tuổi trưởng thành là 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K không yêu cầu anh Nguyễn Minh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn và con chung đối với anh Nguyễn Minh T. Anh T có nơi cư trú tại Thôn 4, xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N. Như vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp và quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng chị K vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 26/9/2006, chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N trên cơ sở hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, thời gian gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, không cùng quan điểm sống dẫn đến không thông cảm cho nhau. Chị K và anh T đã sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Chị K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh T.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Minh T để giải quyết vụ án theo yêu cẩu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mai Thanh K nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại Công an xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N thì anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại thôn 4, xã Nhân Đạo, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk. Tuy nhiên anh T từ chối nhận tất cả các văn bản tố tụng của Toà án, do không thể tống đạt trực tiếp nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng và triệu tập anh T đến Tòa án để giải quyết vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con với chị K nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự đoàn tụ với nhau nhưng không thành do anh anh Nguyễn Minh T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T cư trú, thì chính quyền địa phương cho biết cuộc sống hôn nhân giữa chị K và anh T có mâu thuẫn hay không thì chính quyền địa phương không biết do chị K và anh T không báo. Hiện tại chị K và anh T đã sống ly thân với nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T trong cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T có 02 con chung là Nguyễn Minh Thanh V, sinh ngày 24/9/2006 và Nguyễn Tiến A, sinh ngày 19/5/2011; Nguyện vọng của K sau khi ly hôn được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung đến đủ tuổi trưởng thành là 18 tuổi.
Toà án đã lấy lời khai của các con chung của Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T là cháu Nguyễn Minh Thanh V và cháu Nguyễn Tiến A thì cháu Vi và cháu Anh có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì với mẹ Nguyễn Thị Mai Thanh K. Chị K có đầy đủ điều kiện để nuôi con nên Hội đồng xét xử cần giao 02 con chung Nguyễn Minh Thanh V, sinh ngày 24/9/2006 và Nguyễn Tiến A, sinh ngày 19/5/2011 cho chị Nguyễn Thị Mai Thanh K được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành là 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K không yêu cầu anh Nguyễn Minh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T không nợ ai, không cho ai vay nợ và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là có căn cứ, nên cần Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Từ những phân tích và nhận định trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai Thanh K đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
- Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Minh Thanh V, sinh ngày 24/9/2006 và Nguyễn Tiến A, sinh ngày 19/5/2011 cho chị Nguyễn Thị Mai Thanh K được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành là 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K không yêu cầu anh Nguyễn Minh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T không nợ ai, không cho ai vay nợ và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 57,58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai Thanh K đối với bị đơn anh Nguyễn Minh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
- Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Minh Thanh V, sinh ngày 24/9/2006 và Nguyễn Tiến A, sinh ngày 19/5/2011 cho chị Nguyễn Thị Mai Thanh K được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành là 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K không yêu cầu anh Nguyễn Minh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K và anh Nguyễn Minh T không nợ ai, không cho ai vay nợ và yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
2.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai Thanh K phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lại thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005223 ngày 16/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk R’Lấp; - Chi cục THADS huyện Đắk R’Lấp; - UBND xã Nhân Đ, huyện Đắk R, tỉnh Đắk N (đăng ký kết hôn số 11 ngày 26/9/2006); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Đình Quy |