vanban.org

Bản án 13/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị G. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PR, TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 09/06/2023

HUYỆN CHƯ PR Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PR, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khả Thế. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Công Chự; 2. Ông Nguyễn Ngọc Bình. - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Nhung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Bích Ngọc– Kiểm sát viên. Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 292/2022/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022, về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST- HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Chị Triệu Thị G, sinh năm 1985 Địa chỉ: Thôn 8, xã Ia Piơr, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt). - Bị đơn: Anh Triệu Văn T, sinh năm 1980 Địa chỉ: Thôn 8, xã Ia Piơr, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Triệu Thị G trình bày: Chị và anh Triệu Văn T tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, ngày 13/02/2006. Bước đầu sống chung hạnh phúc. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị và anh Thanh bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng chị không bàn bạc được với nhau bất cứ việc gì trong gia đình, mỗi lần nói chuyện thường xuyên lời qua tiếng lại với nhau, bên

cạnh đó anh Thanh còn qua lại với người phụ nữ khác bên ngoài về nhà có hành vi bạo lực gia định đối với chị, hai vợ chồng mặc dù ở chung một nhà, nhưng việc ai người đó làm, không quan tâm hay hỏi han gì đến ai, nhiều khi nghĩ đến con chị cố gắng nhẫn nhịn, nhưng mâu thuẫn giữa chị và anh Thanh ngày càng lớn, hiện tại chị Ghển và anh Thanh đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 đến nay, chị Ghển xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Triệu Văn T; Về con chung: Chị và anh Triệu Văn T có 02 (hai) con chung tên là Triệu Thị Ân, sinh ngày 08/10/2005 và Triệu Chí Thiên, sinh ngày 02/7/2007 nguyện vọng mong muốn được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh Thanh cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng, trường hợp anh Thanh có nguyện vọng nuôi một trong hai con chung thì hỏi ý kiến của hai con; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Chị Triệu Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Tại bản tự khai (bút lục số 29) ngày 16/11/2022 biên bản lấy lời khai (bút lục số 30, 31) ngày 16/11/2022 anh Triệu Văn T trình bày: Anh và chị Triệu Thị G đi đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, ngày 13/02/2006. Cuộc sống hôn nhân bước đầu sống với nhau hạnh phúc, trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm do bất đồng quan điểm, anh xét thấy vẫn còn tình cảm với chị Ghển, nguyện vọng mong muốn được đoàn tụ, trường hợp chị Ghẻn một mực khăng khăng đòi ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về con chung: Anh và chị Ghển có 02 (hai) con chung tên là Triệu Thị Ân, sinh ngày 08/10/2005 và Triệu Chí Thiên, sinh ngày 02/7/2007, nguyện vọng mong muốn được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị Ghển phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng, trường hợp chị Ghển có nguyện vọng nuôi con anh không đồng ý, vì từ khi chị Ghển bỏ đi không có có trách nhiệm gì với con; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Anh Triệu Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án anh Triệu Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST- HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2023, nhưng anh Thanh đều vắng mặt không có lý do. - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr tham gia phiên tòa – bà Mai Thị Bích Ngọc có ý kiến phát biểu như sau: - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các đương sự, chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. + Thành phần Hội đồng xét xử: Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đều có mặt đầy đủ theo đúng thành phần, không có sự thay đổi thành phần của Hội đồng xét xử. - Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: + Đối với các đương sự: Nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn: Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các nội dung được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về nội quy phiên tòa. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Triệu Thị G và xử ly hôn giữa chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét: Giao 01 (một) con chung tên là Triệu Chí Thiên, sinh ngày 02/7/2007 cho anh Triệu Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (như nguyện vọng của con), giao 01 (một) con chung tên là Triệu Thị Ân, sinh ngày 08/10/2005 cho chị Triệu Thị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (như nguyện vọng của con), anh Triệu Văn T và chị Triệu Thị G được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí, nguyên đơn là chị Triệu Thị G phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Chị Triệu Thị G khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai giải quyết cho ly hôn với anh Triệu Văn T, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con. Anh Triệu Văn T có nơi cư trú tại Thôn 8, xã Ia Piơr, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. Anh Triệu Văn T vắng mặt tại phiên toà, Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử và tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ cho anh Thanh lần thứ 1 nhưng anh Thanh vắng mặt không có lý do. Tòa án có quyết định hoãn phiên Tòa và tiến hành triệu tập hợp lệ anh Thanh lần thứ 2, nhưng anh Thanh vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Thanh là phù hợp với điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy giữa chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, ngày 13/02/2006 là hoàn toàn tự nguyện, đúng

pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị Triệu Thị G Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra lời qua tiếng lại với nhau, vợ chồng không còn ý chí phấn đấu để xây dựng hạnh phúc gia đình, bởi vậy đời sống chung của hai vợ chồng không được kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Triệu Thị G xin ly hôn là có căn cứ, do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Thị G là phù hợp. [3] Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T có 02 (hai) con chung tên là Triệu Thị Ân, sinh ngày 08/10/2005 và Triệu Chí Thiên, sinh ngày 02/7/2007, tại biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên ngày 03 tháng 4 năm 2023 (bút lục số 47) cháu Triệu Chí Thiên có nguyện vọng được ở với bố là anh Triệu Văn T, xét nguyện vọng của con chung là hoàn toàn tự nguyện và chính đáng và anh Thanh cũng có nguyện vọng tha thiết được nuôi con chung, vậy nên giao cháu Triệu Chí Thiên cho anh Triệu Văn T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp, tại biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên ngày 03 tháng 4 năm 2023 (bút lục số 48) cháu Triệu Thị Ân có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Triệu Thị G, xét nguyện vọng của con chung là hoàn toàn tự nguyện và chính đáng và chị Ghển cũng có nguyện vọng tha thiết được nuôi con chung, vậy nên giao cháu Triệu Thị Ân cho chị Triệu Thị G tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình: Giao cho anh Triệu Văn T được trực tiếp chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Triệu Chí Thiên, sinh ngày 02/7/2007 (như nguyện vọng của con) đến tuổi thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, giao cho chị Triệu Thị G được trực tiếp chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Triệu Thị Ân, sinh ngày 08/10/2005 (như nguyện vọng của con) đến tuổi thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình là phù hợp. Chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của các đương sự hoặc của các cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chị Ghển và anh Thanh không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết. [4] Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn là chị Triệu Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 195; Điều 220; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị G. Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T. 2.Về nuôi con: Giao 01 (một) con chung tên là Triệu Chí Thiên, sinh ngày 02/7/2007 (như nguyện vọng của con) cho anh Triệu Văn T được quyền tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Giao 01 (một) con chung tên là Triệu Thị Ân, sinh ngày 08/10/2005 (như nguyện vọng của con) cho chị Triệu Thị G được quyền tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của các đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. 3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết. 4.Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Triệu Thị G và anh Triệu Văn T không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết. 5. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Triệu Thị G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số

0004733, ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. Chị Triệu Thị G đã nộp đủ án phí sơ thẩm. 6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án. Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ