- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Liên-Tuấn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim A về việc tranh chấp “Ly hôn”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2023 V/v: Tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mùa
Ông Phan Tấn Lãm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn BĐ 1, xã ĐH, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Quốc B, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn BĐ 1, xã ĐH, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 4 năm 2022, bản tự khai và biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Kim A trình bày:
Bà Lê Thị Kim A và ông Trần Quốc B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐH, huyện Phước Long (cũ) nay là huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vào ngày 21 tháng 11 năm 2005. Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc được khoảng 10 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông B thường xuyên uống rượu, đi đá gà, không chịu lo làm ăn kinh tế chăm lo cho gia đình, không quan tâm đến vợ con, bà A đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông B không nghe và còn đánh bà A nhiều lần. Nay bà A xác định tình cảm không còn, hôn nhân không có hạnh phúc từ lâu không còn ai quan tâm đến ai, bà A và ông B đã sống ly thân với nhau từ năm năm 2021 cho đến nay không ai quan tâm đến ai, do đó bà A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà A và ông B có 02 người con chung là Trần Quang C, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2006 và Trần Quang D, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2013. Sau khi ly hôn, bà A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung là Trần Quang C và Trần Quang D cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Quốc B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 5 năm 2023, cháu Trần Quang D trình bày:
Cháu là con ruột của bà A, ông B, hiện nay cháu 10 tuổi, cháu có biết việc bố mẹ yêu cầu giải quyết việc ly hôn với nhau tại Tòa án nhưng cháu không biết nguyên nhân vì sao do cháu còn nhỏ, hiện nay cháu đang sống cùng với mẹ. Nay bố mẹ cháu yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Việc cháu có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là do cháu hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc, vì mẹ cháu chăm sóc, lo lắng cho cháu nhiều hơn bố.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 5 năm 2023, cháu Trần Quang C trình bày:
Cháu là con ruột của bà A, ông B, năm nay cháu 17 tuổi và cháu đã nghỉ học để đi làm kiếm tiền nuôi sống bản thân, cháu có biết việc mẹ cháu yêu cầu giải quyết việc ly hôn với bố cháu tại Tòa án nhưng cháu không biết nguyên nhân vì sao, hiện nay cháu đang sống cùng với mẹ. Nay bố mẹ yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Việc cháu có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là do cháu hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc, vì mẹ cháu chăm sóc, lo lắng cho cháu, còn bố cháu thường xuyên uống rượu không lo làm ăn gì, hơn nữa cháu cũng gần 18 tuổi và đã đi làm để kiếm tiền, việc cháu chung sống với ai cũng không quan trọng nữa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa :
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đượng sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 36, 39; 40 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị Kim A.
Về con chung: Giao 02 con chung là Trần Quang C, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2006 và Trần Quang D, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2013 cho bà Lê Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Các vấn đề khác giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án tranh chấp“Ly hôn” do bà Lê Thị Kim A đứng đơn khởi kiện, bị đơn là ông Trần Quốc B cư trú tại: Thôn BĐ 1, xã ĐH, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, 39, 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn ông Trần Quốc B vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần, nên xem như ông B từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông B theo thủ tục chung.
Phân tích nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà A cho thấy, bà và ông B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐH, huyện Phước Long (cũ) nay là huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vào ngày 21 tháng 11 năm 2005. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông B được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chống thường hay cãi nhau, do ông B thường hay đi uống rượu, đá gà và không quan tâm đến gia đình vợ con. Bà A đã khuyên bảo ông B nhiều lần nhưng không được và ông B còn đánh đập bà A nhiều lần, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Nay bà A xác định tình cảm không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, bà A và ông B đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Do đó, bà A đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập giải quyết được ly hôn với ông Trần Quốc B.
Tại phiên tòa bà A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, tuy nhiên bà A trình bày tại Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, bà đã cố gắng hòa giải với ông B nhiều lần nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, bà A xác định nay không còn tình cảm với ông B. Mặc dù, tại phiên tòa không có mặt ông B, nhưng bà A và ông B đã sống ly thân với nhau từ năm 2021. Hội đồng xét xử thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, từ lâu không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà A và ông B có 02 người con chung là Trần Quang C, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2006 và Trần Quang D, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2013. Quá trình thu thập chứng cứ cũng như lời khai, bản tự khai của bà A có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu C và cháu D cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về phía các cháu cũng có lời khai và nguyện vọng được ở với bà A. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu, nghĩ cần thiết phải giao 02 người con chung là Việt và Nam cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim A về việc tranh chấp “Ly hôn”
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim A được ly hôn với ông Trần Quốc B.
- Về con chung: Giao 02 người con chung là Trần Quang C, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2006 và Trần Quang D, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2013 cho bà Lê Thị Kim A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006484 ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận - TAND, VKSND tỉnh BP; - VKSND huyện Bù Gia Mập; - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập; - UBND xã Đức Hạnh, huyện Bù Gia Mập - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-chủ toạ phiên toà Văn Phú Vinh |