- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trịnh Thị Y khởi kiện xác định anh Trần Như Ng là cha của cháu Trần Gia H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Y.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 31- 08 - 2023 V/v “Xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Toan
2. Bà Trần Thị Mão
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Việt Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Giang Thị Quỳnh Loan – Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 07 năm 2023 về tranh chấp “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày 04 tháng 08 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Y, sinh năm: 1995 (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Th, xã D, huyện M, tỉnh Ninh Bình.
2. Bị đơn: Anh Trần Như Ng, sinh năm: 1997 (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: xóm 2, xã Th, huyện M, tỉnh Ninh Bình.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Địa chỉ: Thôn Th, xã D, huyện M, tỉnh Ninh Bình.
.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Trịnh Thị Y trình bày:
Chị Trịnh Thị Y và anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn Th, xã D, huyện M, tỉnh Ninh Bình trước đây là vợ chồng, có đăng kết hôn hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân giữa vợ chồng chị thì chị Y có quen biết, phát sinh tình cảm và có thai với anh Trần Như Ng, sinh năm 1997; nơi cư trú: xóm 2 xã Th, huyện M, tỉnh Ninh Bình và sinh được một người con là cháu Trần Gia H (tên dự kiến) sinh ngày 24/03/2020.
Tháng 03/2023, chị Trịnh Thị Y và anh Nguyễn Văn H ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/03/2023, lúc đó cháu Trần Gia H (tên dự kiến) chưa được khai sinh và anh H cũng không thừa nhận cháu Gia H là con chung của hai anh chị.
Tháng 03/2023, chị Trịnh Thị Y và anh Trần Như Ng kết hôn với nhau và hiện nay chị Y và anh Ng là vợ chồng hợp pháp. Để chứng minh cháu Trần Gia H là con đẻ của chị Y và anh Ng, chị và anh Ng đã đề nghị Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền – Genlab giám định ADN của anh Ng và cháu Trần Gia H và kết quả xét nghiệm ADN kết luận cháu Trần Gia H là con đẻ của anh Trần Như Ng. Để đảm bảo quyền có cha của cháu Trần Gia H, chị Y yêu cầu Tòa án xác định cháu Trần Gia H là con đẻ của anh Trần Như Ng.
Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Như Ng trình bày:
Anh Trần Như Ng có quen biết, phát sinh tình cảm với chị Trịnh Thị Y dẫn đến chị Y có thai với anh Ng và chị Y sinh được một người con là cháu Trần Gia H (tên dự kiến) như chị Y trình bày.
Đến tháng 03/2023, chị Y và anh Ng đăng ký kết hôn và hiện nay anh Ng và chị Y là vợ chồng hợp pháp. Để chứng minh cháu Trần Gia H là con đẻ của chị Y và anh Ng, anh chị đã đề nghị Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền – Genlab giám định ADN của anh Ng và cháu Trần Gia H và kết quả xét nghiệm ADN kết luận cháu Trần Gia H là con đẻ của anh Trần Như Ng. Nay chị Trịnh Thị Y yêu cầu Tòa án giải quyết xác định cháu Trần Gia H là con đẻ của anh Ng, anh Ng cũng nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Y.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H:
Anh Nguyễn Văn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để anh H có mặt tại phiên tòa nhưng anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, đến nay anh H không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự: xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ cho Viên kiểm sát nghiên cứu đúng thời gian. Các đương sự cơ bản chấp hành đúng quy định về tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Y, xác định anh Trần Như Ng là cha của cháu Trần Gia H sinh ngày 24/03/2020 (theo giấy chứng sinh số 14 ngày quyển số 3 ngày 27/3/2023 của Bệnh viện hữu nghị Lạc Việt)) là con đẻ của anh Trần Như Ng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trịnh Thị Y được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và yêu cầu của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Trịnh Thị Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xác định cháu Trần Gia Huy (tên dự kiến) là con đẻ của anh Trần Như Ng cư trú tại: xóm 2, xã Th, huyện M, tỉnh Ninh Bình. Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện của chị Y theo khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn chị Trịnh Thị Y, bị đơn anh Trần Như Ng đều thừa nhận cháu Trần Gia H (tên dự kiến) là con đẻ của anh Trần Như Ng; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H sau khi được tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ, không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc thừa nhận của chị Y, anh Ng và anh H không phản đối việc chị Y đề nghị xác nhận anh Ng là cha của cháu Trần Gia H phù hợp với kết quả giám định số NV23ADN0620/ADN ngày 31 tháng 03 năm 2023 Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền – Genlab, có đủ cơ sở xác định cháu Trần Gia H là con đẻ của anh Trần Như Ng vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Y là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 88 và khoản 2 Điều 101 và điểm a khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trịnh Thị Y được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 88, khoản 2 Điều 101, điểm a khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Y.
2. Xác định cháu Trần Gia H (tên dự kiến) sinh ngày 24/03/2020 là con đẻ của anh Trần Như Ng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho chị Trịnh Thị Y.
4. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Yên Mô; - Các đương sự; - Cơ quan đăng ký hộ tịch - Chi cục THADS huyện Yên Mô; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Anh Tuấn |