- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về xác nhận cha cho con của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; luật giám định; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 3 – 2023 V/v: Tranh chấp về xác nhận cha cho con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Chiều. Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
Nơi cư trú: Thị trần Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
2. Bà Nguyễn Thị Sen. Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
Nơi cư trú: Thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp về xác nhận cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; có mặt.
Địa chỉ: Nhà số 91, phố TT, phường TM, thành phố Hải Dương.
2. Bị đơn: Anh Bùi Tiến H, sinh năm 1985; có mặt.
Địa chỉ: Nhà số 40, thôn Bãi Thụy, xã ĐT, huyện ĐP, thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Văn K, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Tân Hải, xã Đông Trà, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y), sinh ngày 23/8/2020; cháu Bùi Ngọc Y, sinh ngày 14/12/2021. Người đại diện theo pháp luật cho cháu Mến và cháu Uyên là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 (là mẹ đẻ cháu Mến, cháu Uyên); địa chỉ: Nhà số 91, phố Tứ Thống, phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện về xác nhận cha cho con, nguyên đơn là Nguyễn Thị H trình bày:
Năm 2017 chị có quen biết anh Bùi Tiến H, do làm cùng với nhau tại Công ty ở thành phố Hải Dương. Trong quá trình quen biết anh Hiệp thì chị vẫn còn quan hệ hôn nhân là vợ chồng với anh Đỗ Văn K. Quá trình quen biết anh Hiệp thì chị có sinh được hai cháu tên dự kiến là Nguyễn Thị M (tên khác là Bùi Ngọc Y - đều là tên dự đặt) sinh ngày 23/8/2020 tại Bệnh viện phụ sản Hải Dương và cháu Bùi Ngọc Y (tên dự đặt), sinh ngày 14/12/2021 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
Tháng 6/2022 chị có đơn xin ly hôn với anh Đỗ Văn K. Tại Bản án sơ thẩm số 129/2022/HNGĐ-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã xét xử và quyết định cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn K; về con, chị với anh K có hai con chung là cháu Đỗ Thị Kim Oanh, sinh ngày 18/4/2008 và cháu Đỗ Tuấn Tú, sinh ngày 21/3/2012, chị là người được giao nuôi hai con. Ngoài cháu Oanh và cháu Tú thì chị không có con chung nào khác với anh K.
Nay, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xác định anh Bùi Tiến H là cha của cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y) và cháu Bùi Ngọc Y.
- Theo bản tự khai, bị đơn anh Bùi Tiến H trình bày:
Năm 2017 anh quen biết với chị Nguyễn Thị H, trong quá trình đó anh đã có quan hệ tình cảm với chị H và chị H có sinh được hai cháu là Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y), sinh ngày 23/8/2020 tại Bệnh viện phụ sản Hải Dương và cháu Bùi Ngọc Y, sinh ngày 14/12/2021 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng. Nay chị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xác định anh là cha của cháu Yến và cháu Uyên thì anh cũng không biết chính xác mình có phải là cha của hai cháu hay không, vì thời điểm đó chị H vẫn đang còn quan hệ hôn nhân với anh Đỗ Văn K. Do vậy, anh đề nghị Tòa án tiến hành lấy mẫu giám định để xác định, nếu anh là cha của cháu Yến và cháu Uyên thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn K trình bày: Năm 2007 anh có đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị H tại Uỷ ban nhân dân phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Do anh chị chung sống không hạnh phúc nên đã ly hôn theo Bản án số 129/2022/HNGĐ-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Anh với chị H có hai con chung là cháu Đỗ Thị Kim Oanh, sinh ngày 18/4/2008 và cháu Đỗ Tuấn Tú, sinh ngày 21/3/2012, được giao cho chị H nuôi và hiện nay các cháu đang ở cùng chị H. Ngoài cháu Oanh và cháu Tú thì anh và chị H không có con chung nào khác. Anh đề nghị Tòa án giải quyết việc chị H yêu cầu theo qui định pháp luật.
- Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu về xác nhận anh Bùi Tiến H là cha của cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y) và cháu Bùi Ngọc Y. Anh Bùi Tiến H đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tham gia phiên toà phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án, cũng như trong quá trình điều tra và thu thập chứng cứ vụ án, Toà án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng và qui định pháp luật.
Về nội dung: Theo kết luận giám định, các tài liệu điều tra có đủ cơ sở kết luận anh Bùi Tiến H có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Bùi Ngọc Y và cháu Bùi Ngọc Y. Căn cứ Điều 88, 90, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xác nhận anh Bùi Tiến H là cha của cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y) và Bùi Ngọc Y. Chị H được miễn nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện về việc xác nhận anh Bùi Tiến H có địa chỉ tại: Thôn Bãi Thụy, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là cha của cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y) và cháu Bùi Ngọc Y (tên của các cháu trên đều là tên dự đặt), theo qui định của pháp luật thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
Quá trình thụ lý và giảỉ quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ trình tự tố tụng theo qui định để giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Anh Đỗ Văn K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Đỗ Văn K,
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự trong vụ án thì có cơ sở xác định chị Đỗ Thị H và anh Đỗ Văn K kết hôn năm 2007, đến tháng 7/2022 thì ly hôn. Theo Bản án số 129/2022/HNGĐ-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã quyết định thì chị H và anh K chỉ có hai con chung là cháu Đỗ Thị Kim Oanh, sinh ngày 18/4/2008 và cháu Đỗ Tuấn Tú, sinh ngày 21/3/2012, ngoài ra anh chị không có con chung nào khác. Cũng trong thời kỳ còn tồn tại quan hệ hôn nhân với anh K thì chị H có quan hệ tình cảm với anh Bùi Tiến H, chị H có sinh hai cháu là Nguyễn Thị M (tên khác là Bùi Ngọc Y - đều là tên dự đặt) sinh ngày 23/8/2020 và cháu Bùi Ngọc Y (tên dự đặt), sinh ngày 14/12/2021.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã trưng cầu giám định ADN giữa anh Bùi Tiến H với cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y) và cháu Bùi Ngọc Y. Căn cứ vào Kết luật giám định số 09T03/23/DNA ngày 09/3/2023 của Công ty TNHH đầu tư và công nghệ Genpus ngày 09/3/2023 đã kết luận anh Bùi Tiến H có quan hệ huyết thống bố - con với Bùi Ngọc Y; anh Bùi Tiến H có quan hệ huyết thống bố - con với Bùi Ngọc Y.
Như vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện về xác nhận cha cho con của chị Nguyễn Thị H, xác định anh Bùi Tiến H là cha của cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y) và cháu Bùi Ngọc Y.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Tiến H có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để làm thủ tục hộ tịch cho cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y) và cháu Bùi Ngọc Y theo qui định của pháp luật.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị H được miễn nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự: Các đương sự trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28; khoản 1 Điều 147; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 88, khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về xác nhận cha cho con của chị Nguyễn Thị H.
2. Xác định anh Bùi Tiến H, sinh 1985; địa chỉ: Thôn Bãi Thụy, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là cha của cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y - đều là tên dự đặt), sinh ngày 23/8/2020 và cháu Bùi Ngọc Y (tên dự đặt), sinh ngày 14/12/2021 (theo giấy chứng sinh số 11312 ngày 23/8/2020 của Bệnh viện phụ sản Hải Dương và Giấy chứng sinh số 112 quyển số 27 ngày 14/12/2021 của Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng).
3. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Tiến H có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để làm thủ tục về hộ tịch liên quan đến cháu Nguyễn Thị M (tên khác Bùi Ngọc Y) và cháu Bùi Ngọc Y theo qui định của pháp luật.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H được miễn nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Tiến H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Đỗ Văn K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Đan Phượng; - CCTHADS huyện Đan Phượng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Doãn Văn Tuyến |