- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung — án dân sự — "Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất cấp hộ gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn ông Nguyễn C, bà Trần Thị L và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Ông Nguyễn Hữu N, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Q về việc phân chia tài sản C là quyền sử d ng đất cấp cho hộ gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 102 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 167 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/DSST Ngày 07-8-2023 V/v: “Tranh chấp chia tài sản C”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Trần Nc Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nông Thị Giới
Ông Lưu Huy Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B.
i di n i n i m s t nhân dân thị xã B tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Dung - i m sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023, t i tr s Tòa án nhân dân thị xã B xét xử sơ thẩm công khai v án dân sự sơ thẩm th lý số: 93/2022/TLST - DS ngày 25/10/2022, về việc “Tranh chấp chia tài sản C”, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 08/2023/TLST – DS, ngày 25 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-DS ngày 23/5/2023; Thông báo dời lịch xét xử số 09/TB-TA ngày 19/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-DS ngày 07/7/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn C, sinh năm 1938 và bà Trần Thị L, sinh năm 1942 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước
Người đ i di n theo ủy quyền của nguyên đơn:
Ông Vũ Nc TA, sinh năm 1991 (Có mặt)
Địa chỉ: 97/1E PTT, phường PL, thành phố H, tỉnh Bình Dương
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964 (Có mặt)
Địa chỉ: 1020/31 CS8, khu phố 5, phường CN, thành phố H, tỉnh Bình Dương.
Luật sư bảo v quyền và lợi ích hợp ph p của ông C, bà L: Ông Vũ NT, sinh năm 1961 (Có mặt)
Địa chỉ: 25/21 Nguyễn Văn Lên, phường PL, thành phố H, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1971 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước
Người đ i di n theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1974 (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ 02, khu phố BT, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước
2. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1980 (Có mặt)
Ông Nguyễn HB, sinh năm 2008 và Nguyễn Thị BT, sinh năm 2011 (Vắng mặt, có đơn)
Cùng địa chỉ: Tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước
3. Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 65, 1, phường CN, thành phố H, tỉnh Bình Dương
Người đ i diện theo ủy quyền của ông N: Ông Vũ Nc TA, sinh năm 1991 (Có mặt)
Địa chỉ: 97/1E PTT, phường PL, thành phố H, tỉnh Bình Dương
4. Đỗ Minh D, sinh năm 1998 (Vắng mặt, có đơn)
Địa chỉ: khu phố BT, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
6. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964 (Có mặt)
Địa chỉ: 1020/31, CMT8, hu 5, phường CN, thành phố H, tỉnh Bình Dương.
7. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1952 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 01, khu phố PA, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
8. Bà Nguyễn Thị QH, sinh năm 2002 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
9. Ông Trần C, sinh năm 1981 (Vắng mặt, có đơn)
Địa chỉ: Tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Ngƣời tham gia tố tụng khác:
Ủy ban nhân dân thị xã B: Đ i diện theo ủy quyền ông Tô M nh H, sinh năm 1980 - Phó trư ng phòng Tài nguyên – Môi trường thị xã B
Địa chỉ: Tổ 01, khu phố XII, phường HC, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt, có đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi ki n và bản lời khai t i Tòa n nhân dân thị xã B, cùng các tài li u chứng cứ kèm theo của nguyên đơn ông Nguyễn C, bà Trần Thị L và người đ i di n theo ủy quyền bà Nguyễn Thị C, ông ũ Nc TA thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông C, bà L trước đây là công nhân cao su đội 17, nông trường Xthuộc xã Thanh Lương nay là G. Do gia đình ông C, bà L có 04 thành viên công nhân trực tiếp của nông trường nên được nông trường xét cấp cho 01 phần diện tích đất tương đương là 2851m2, thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước vào tháng 5/1981. Sau đó, do ông C và bà L lớn tuổi ít đi l i, đã giao cho con trai là ông Nguyễn H thay mặt hộ gia đình đi làm các thủ t c theo quy định đ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất. Ngày 12/7/1999 hộ gia đình ông C và bà L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất đứng tên hộ ông Nguyễn H (con trai ông C). Tài sản gắn liền trên đất hiện nay gồm: 02 (hai) căn nhà trong đó 01 căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 60m2 do con trai ông C, bà L là ông Nguyễn H xây dựng và đang sử d ng; 01 căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 200m2 là nơi ông C, bà L sinh sống, thờ ph ng ông bà tổ tiên. Nay ông C, bà L đã già yếu muốn sang nhượng 01 phần tài sản C đ chữa bệnh và dưỡng già nên yêu cầu con trai là ông Nguyễn H chia tài sản đ ông C, bà L có tài sản sinh ho t và dưỡng già nH ông H không đồng ý, cố tình không chia tài sản thuộc s C.
Theo ông C, bà L thì phần tài sản C gồm 08 người đồng s hữu trong hộ khẩu gia đình thời đi m tháng 7/1999 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất lần đầu, bao gồm:
Ông Nguyễn C, sinh năm 1938 là chủ hộ
Bà Ph m Thị T1, sinh năm 1911 – mẹ ông C, đã chết năm 2003
Bà Trần Thị L, sinh năm 1942 – vợ ông C
Ông Nguyễn H, sinh năm 1971 – con trai ông C (bị đơn)
Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1972 – con gái ông C
Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1978 – con trai ông C
Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1976 – con trai ông C (đã chết năm 2018, người thừa kế quyền và nghĩa v của ông Bảy gồm có vợ ông Bảy bà Nguyễn Thị Q và 02 người con Nguyễn HB và Nguyễn Thị BT)
Ông Đỗ Minh D cháu ngo i ông C
Nay do ông H không chịu thực hiện thỏa thuận phân chia tài sản C, nên ông C, bà L làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: chia tài sản C là quyền sử d ng đất diện tích 2851m2, thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước thành 08 tám phần bằng nhau cho 08 người có liên quan trong hộ khẩu t i thời đi m tháng 7/1999, mỗi phần diện tích tương đương 356,3m2, ông C, bà L có nguyện vọng nhận 03 phần diện tích khoảng 1.069m2 (trong đó có phần của bà Ph m Thị T1- mẹ ông C, đ thờ cúng) phần diện tích có căn nhà ông C và bà L đang sinh sống.
Bị đơn ông Nguyễn H và người đ i di n theo ủy quyền (đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) bà Nguyễn Thị O vắng mặt t i phiên tòa, t i biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải, có ý kiến trình bày:
Thừa nhận, nguồn gốc mảnh đất 2851m2, thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước là do khoảng năm 1981 ba mẹ ông H là ông C, bà L làm công nhân, nên được công ty cấp đất cho làm nhà , sau này ông C, bà L cho l i mảnh đất này cho ông H vào năm 1998, nên ông H đã làm chủ t c kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất đứng tên hộ ông Nguyễn H và s hữu từ năm 1999 đến nay, từ đó đến nay gia đình ông H canh tác, sử d ng quản lý trên mảnh đất này, không có ai tranh chấp.
Trước đây ông H và vợ là bà O cùng C sống với cha mẹ là ông C và bà L t i căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 200m2, tuy nhiên sau đó đã tách ra xây dựng nhà riêng cũng trên mảnh đất này với diện tích khoảng 60m2, nay phía ông C, bà L yêu cầu chia tài sản C là mảnh đất trên, ông H và bà O đồng ý chia theo yêu cầu của ông C, bà L đối với phần diện tích đất ông C, bà L yêu cầu là 03 phần diện tích khoảng 1.069m2 (trong đó có phần của bà Ph m Thị T1- mẹ ông C, đ thờ cúng) phần diện tích có căn nhà ông C và bà L đang sinh sống.
Đối với các yêu cầu độc lập của người có quyền nghĩa v liên quan khác là ông Nguyễn Hữu N, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Q và ông Đỗ Minh D, ông H và bà O không đồng ý, vì thực tế, từ trước đến nay chỉ có gia đình ông và bố mẹ là ông C và bà L trực tiếp canh tác, sử d ng trên mảnh đất này, những người khác chỉ là những người có cùng hộ khẩu t i thời đi m cấp đất chứ không trực tiếp canh tác, sử d ng trên đất.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Nguyễn Hữu N, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Q (vợ ông Nguyễn Hữu B đã chết, cùng 02 con) trình bày: có yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản C là quyền sử d ng đất thành 08 (tám) phần bằng nhau cho 08 người có liên quan trong hộ khẩu t i thời đi m tháng 7/1999, mỗi phần diện tích tương đương 356,3m2, mỗi người được nhận 01 phần. Tuy nhiên, phần tài sản này những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trình bày đồng ý sau khi chia sẽ tự nguyện giao l i cho cha mẹ là ông Nguyễn C và bà Trần Thị L quản lý sử d ng không yêu cầu cha mẹ là ông C, bà L phải trả l i giá trị phần quyền tài sản mà mình được chia và đề nghị Tòa án ghi nhận trong bản án.
i di n theo ủy quyền của ông Nguyễn C, bà Trần Thị L – bà Nguyễn Thị C đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Nguồn gốc mảnh đất này là do vào năm 1981, bà Châu cùng cha mẹ là ông Nguyễn C, sinh năm 1938, bà Trần Thị L, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967, làm công nhân cao su thuộc đội 17, nông trường Sa Cam, nên được công ty cấp đất cho , cấp C 13 hộ sát nhau cùng t i ấp 17, xã G. NH thời đi m đó, công ty cấp cho gia đình nào thì gia đình đó vào sinh sống chứ không có giấy tờ cấp đất gì từ công ty c th cho từng gia đình. Từ thời đi m gia đình được nông trường cấp đất đ năm 1981 bà Châu cùng trực tiếp sinh sống trên đất C với cha, mẹ, đến năm 1988 (tháng 2/1988) lập gia đình và chuy n về Bình Dương sinh sống. hi cùng C sống với cha mẹ, bà Châu vừa ph giúp cha mẹ làm vườn, canh tác trên đất, vừa đi làm công nhân cho Nông trường. Đối với quyền sử d ng đất đang tranh chấp mỗi người con đều có những đóng góp nhất định, nH bà Châu xác định đây là tài sản của cha mẹ, không có tranh chấp hay yêu cầu được chia tài sản đối với quyền sử d ng đất trên.
Bà Châu trình bày: Đây thực tế là quyền sử d ng đất cha mẹ bà ông Nguyễn C, bà Trần Thị L, phần của ông Nguyễn H đang thực tế sử d ng, sẽ cho ông H không ai tranh chấp, phần còn l i tất cả các anh em khác trong gia đình đều có nguyện vọng giao về cho cha mẹ, nên đề nghị Tòa án xem xét giao về cho cha mẹ là ông C và bà L quản lý, sử d ng.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kh c:
Bà Nguyễn Thị QH, sinh năm 2002: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nH không tham gia tố t ng, không có ý kiến trình bày.
Bà Nguyễn Thị Phượng, bà Hoàng Thị Huyền và 02 người con bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, sinh năm 1993, ông Nguyễn Hoàng Tiến, sinh năm 2003 đã được Tòa án triệu tập tham gia tố t ng, tiến hành lấy lời khai, trong bản tự khai đều từ chối tham gia tố t ng, không có ý kiến yêu cầu gì đối với việc chia tài sản C.
Bà Nguyễn Thị M: Tòa án đã tống đ t thông báo xác định tư cách tham gia tố t ng và các văn bản tố t ng khác cho bà Mai, nH bà Mai từ chối tham gia tố t ng vì cho rằng tranh chấp không liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không đồng ý ký nhận các văn bản tố t ng, không có ý kiến trình bày.
Ý kiến của i di n theo ủy quyền của UBND thị xã B: Qua ki m tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, về trình tự thủ t c cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho hộ ông Nguyễn H, UBND thị xã B đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc sử d ng đất, theo đơn đăng ký quyền sử d ng đất ông H kê khai gia đình khai phá năm 1981 và đã được hội đồng xét duyệt cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất xã G duyệt.
Về thành viên hộ gia đình sử d ng đất: khoản 29 Điều 3 Luật đất đai 2013 quy định:“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống C và có quyền sử dụng đất C tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”. Như vậy, hộ gia đình sử d ng đất đã được quy định c th , việc xác định thành viên hộ gia đình sử d ng đất UBND thị xã đề nghị tòa căn cứ vào các chứng cứ, các tài liệu liên quan và lời khai của các đương sự, nhân chứng trong quá trình xét hỏi đ xác định.
Ý kiến của i m s t viên ph t bi u t i phiên tòa:
Về tố t ng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố t ng dân sự trong quá trình giải quyết v án, người tham gia tố t ng chấp hành đúng quy định.
Về nội dung v án: Năm 1981 hộ gia đình công C gồm 10 người gồm Trần Thị L, Nguyễn C, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M, Ph m Thị Theo, Nguyễn Hữu Việt, Nguyễn H, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Hữu B, Nguyễn Hữu N cùng 12 hộ dân địa phương đi kinh tế mới từ Vĩnh Trung, Vĩnh Linh, Quảng trị đến Đội 17, xã Thanh Lương (nay là xã G). Công ty Quản Lợi (nay là Công ty TNHH-MTV cao su B) giao đất đ ổn định cuộc sống vì gia đình có người là công nhân của công ty, mỗi hộ được giao một phần đất chiều ngang khoảng 20m, chiều sâu khoảng 50m đ làm kinh tế gia đình gia đình, gia đình nào công nhân nhiều hơn thì diện tích nhiều hơn. Lúc này, gia đình ông C có 04 người là công nhân gồm Trần Thị L, Nguyễn C, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M.
Gia đình ông C đã cùng nhau sử d ng thửa đất trên và còn khai phá thêm phần đất phía sau. Hiện nay, gia đình ông C có diện tích đất tổng cộng là 2851m2 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất.
Tất cả các thành viên trong gia đình ông C đều thừa nhận nội dung trên, mỗi thành viên trong gia đình đều có công đóng góp trong khối tài sản đất này. Lời khai này phù hợp với lời khai của người làm chứng gồm Hồ Sỹ Lực, Võ Trọng Du, Lê Diên Thương.
T i biên bản làm việc ngày 12/5/2023 về việc xác minh nguồn gốc sử d ng đất và t i văn bản của Công ty cao su Quản Lợi về danh sách công nhân và gia thuộc đã nhận ngày 07/6/1981 có tên 10 người gồm Trần Thị L, Nguyễn C, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M, Ph m Thị Theo, Nguyễn Hữu Việt, Nguyễn H, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Hữu B, Nguyễn Hữu N. Trong đó L, C, Châu, Mai đang là công nhân của công ty.
Như vậy, căn cứ đi m 4 m c II của Quyết định số 95-CP ngày 27/3/1980 Của Chính phủ về chính sách xây dựng các vùng kinh tế mới, Điều 118 BLDS năm 1995 (Bộ luật dân sự đầu tiên) thì đây là tài sản C của hộ gia đình ông C gồm 10 người có tên trong danh sách khi được giao đất làm kinh tế mới.
Năm 1999 Nguyễn H đi đăng ký quyền sử d ng đất, được UBND huyện B cấp giấy số 00951 ngày 12/7/1999, diện tích 2812 m2 tọa l c t i tổ 6, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước đứng tên hộ ông Nguyễn H. Sau đó, thửa đất này được UBND huyện B cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số 00099 ngày 22/4/2004, diện tích 2812 m2 thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37 đứng tên hộ ông Nguyễn H.
Vào thời đi m khi đăng ký quyền sử d ng đất ngày 12/7/1999 sổ hộ khẩu gia đình ông C có 8 thành viên gồm: chủ hộ Nguyễn C; mẹ của chủ hộ Ph m Thị T1 (sinh năm 1911, chết năm 2003, không có di chúc); vợ Trần Thị L sinh năm 1942; cháu ngo i Đỗ Minh D sinh năm 1998 và các con Nguyễn H sinh năm 1971; Nguyễn Thị Y sinh năm 1974; Nguyễn Hữu N sinh năm 1978; Nguyễn Hữu B sinh năm 1976 (đã chết năm 2018 có vợ Nguyễn Thị Q và con Nguyễn HB, Nguyễn Thị BT).
Việc ông H đi làm giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, sau đó cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử d ng đất thì các thành viên trong hộ không rõ, sau này mới biết và thấy giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cấp cho “hộ ông Nguyễn H” nghĩ “hộ” là cấp C cho gia đình nên không có ý kiến và cũng không có tranh chấp gì.
Xét đơn đăng ký quyền sử d ng đất ngày 03/12/1998 của ông H thì việc ông H kê khai “đất khai phá năm 1981” sẽ không được chấp nhận vì lúc này ông H mới 10 tuổi không th khai phá được diện tích đất 2812m 2, do đó ông H đã tự ghi thêm “cha mẹ cho 98” đ có đủ điều kiện xem xét cấp giấy cho gia đình. Ông H tự khai “cha mẹ cho 98” chứ không có văn bản thỏa thuận nào của các thành viên trong gia đình về việc cha mẹ cho ông H đất trên.
Căn cứ Điều 118 BLDS năm 1999, Điều 108 BLDS năm 2005 thì quyền sử d ng đất của thửa đất tranh chấp là vẫn tài sản C của hộ gia đình và là tài sản có được vào thời đi m được giao đất năm 1981 của 10 thành viên trong gia đình. Những thành viên này đều có công sức đóng góp (ít, nhiều) và giữ gìn vào khối tài sản này cho đến ngày hôm nay và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nh n quyền sử d ng đất. hi có yêu cầu chia tài sản C này cần chia đều cho các thành viên, ưu tiên cho những người đang có nhà đang sinh sống trên đất được tiếp t c giữ phần đất có nhà.
- Đối với Đỗ Minh D: hông có tên trong danh sách cấp đất nH l i có tên trong sổ hộ khẩu vào thời đi m làm giấy chứng nhận quyền sử d ng đất. Năm 1999 Duy được một tuổi. Duy đã khai nhận đúng sự việc như trên, xác định không có công đóng góp. Đồng thời Duy là con của chị Nguyễn Thị Y (là người đã được chia đất) nên xác định rõ Đỗ Minh D không được chia đất trong khối tài sản C này.
Thửa đất này là tài sản C của 10 người có tên trong danh sách khi được giao đất năm 1981 gồm: Trần Thị L, Nguyễn C, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị M, Ph m Thị T1, Nguyễn Hữu Việt, Nguyễn H, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Hữu B, Nguyễn Hữu N.
- Đối với ông Nguyễn Hữu Việt (đã chết): Người thừa kế của ông Việt có văn bản không liên quan đến thửa đất, từ chối nhận phần tài sản của ông Việt nên không chia cho ông Việt. Bà Châu: không có yêu cầu chia phần đất. Bà Mai: biết rõ v việc tranh chấp chia tài sản, đã được giao các văn bản theo quy định nH không có ý kiến. Những người trong gia đình xác nhận chị Mai không có yêu cầu chia đất và từ chối nhận phần đất chia được.
Như vậy, thửa đất tranh chấp được chia làm 07 phần bằng nhau cho 07 người gồm: Trần Thị L, Nguyễn C, Ph m Thị T1, Nguyễn H, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Hữu B, Nguyễn Hữu N. Ưu tiên chia phần đất cho những người đang sinh sống trên thửa đất được nhận phần đất đang sử d ng có nhà trên đất.
Đối với phần của bà Ph m Thị T1 (đã chết) thì những người thừa kế thống nhất giao cho ông Nguyễn C. T i các lời khai của Nguyễn Hữu N, Nguyễn Thị Y thì đã có ý kiến phần đất được chia giao cho ông C quản lý. T i phiên tòa, Trần Thị L, Nguyễn Thị Y, người thừa kế của Nguyễn Hữu B là Nguyễn Thị Q (vợ) thống nhất phần đất được chia thì giao cho ông Nguyễn C quản lý.
Như vậy, yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa v liên quan được chấp nhận một phần. Thửa đất đang tranh chấp được chia làm 7 phần, ông H được 1 phần đất trong đó có nhà của ông H, 6 phần đất còn l i là của ông Nguyễn Văn C theo sơ đồ đo đ c của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B.
Về án phí, chi phí tố t ng: các đương sự phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ t c tố t ng:
Ông Nguyễn C và bà Trần Thị L kh i kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản C là quyền sử d ng đất thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37, diện tích 2851m2, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước thành 08 (tám) phần bằng nhau cho 08 người có liên quan trong hộ khẩu t i thời đi m tháng 7/1999, mỗi phần diện tích tương đương 356,3m2, ông C, bà L có nguyện vọng nhận 03 phần diện tích khoảng 1.069m2 (trong đó có phần của bà Ph m Thị T1- mẹ ông C, đ thờ cúng) phần diện tích có căn nhà ông C và bà L đang sinh sống.
Xét, bị đơn ông Nguyễn H có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú t i xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Quyền sử d ng đất là tài sản C, các bên đang tranh chấp và yêu cầu Tòa án phân chia tọa l c t i xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp chia tài sản C của hộ gia đình là quyền sử d ng đất”, căn cứ quy định t i khoản 2 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố t ng dân sự v án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn ông Nguyễn H; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đồng thời là người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị O; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị QH, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nH vẫn vắng mặt t i phiên tòa không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng, tr ng i khách quan Hội đồng xét xử áp d ng Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
Về nội dung v án:
Hộ ông Nguyễn H có tài sản là quyền sử d ng đất, thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37, diện tích 2851m2, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước, được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất lần đầu đứng tên hộ ông Nguyễn H vào ngày 12/7/1997, nguồn gốc kê khai: khai phá năm 1981, cha mẹ cho 98; đến ngày 22/4/2004 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số phát hành Y543666, số vào sổ 00099QSDĐ/627/QĐUB.H.
Theo nguyên đơn và sự thừa nhận, không phản đối của bị đơn nguồn gốc thửa đất trên do vợ chồng ông C, bà L, cùng 02 thành viên là bà Châu và bà Mai, trước đây là công nhân cao su đội 17, nông trường Xthuộc xã Thanh Lương nay thuộc xã G, nên được Công ty Cao su xét giao cho 01 phần diện tích đất tương đương 2851m2, thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước đ làm nhà vào tháng 5/1981. Sau đó, con trai là ông Nguyễn H đi làm các thủ t c kê khai theo quy định đ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất. Ngày 12/7/1999 hộ gia đình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất lần đầu đứng tên hộ ông Nguyễn H, trước đây do tin tư ng con cái nên ông C, bà L mặc dù biết ông Nguyễn H là người đứng tên chủ hộ, nH không có ý kiến vì cho rằng tài sản C của hộ ai đứng tên đều được.
Hiện ông C, bà L đã già yếu nên yêu cầu con trai là ông Nguyễn H chia tài sản đ ông C, bà L có tài sản sinh ho t và dưỡng già nH ông H không đồng ý. Nay ông C và bà L yêu cầu Tòa án giải quyết: chia tài sản C là quyền sử d ng đất diện tích 2851m2, thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước thành 08 (tám) phần bằng nhau cho 08 người có liên quan trong hộ khẩu t i thời đi m tháng 7/1999, mỗi phần diện tích tương đương 356,3m2, ông C, bà L có nguyện vọng nhận 03 phần diện tích khoảng 1.069m2 (trong đó có phần của bà Ph m Thị T1-mẹ ông C, đ thờ cúng) phần diện tích có căn nhà ông C và bà L đang sinh sống.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Nguyễn Hữu N, bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị Q có yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản C là quyền sử d ng đất thành 08 (tám) phần bằng nhau cho 08 người có liên quan trong hộ khẩu t i thời đi m tháng 7/1999, mỗi phần diện tích tương đương 356,3m2, những người này yêu cầu được nhận 01 phần. Tuy nhiên, những phần tài sản này những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trình bày thống nhất đồng ý giao l i toàn bộ cho cha mẹ là ông Nguyễn C và bà Trần Thị L quản lý, sử d ng, không yêu cầu cha mẹ là ông C, bà L phải trả l i giá trị phần quyền tài sản mà mình được chia.
Bị đơn vắng mặt t i phiên tòa, t i bản tự khai và biên bản hòa giải trình bày: đồng ý phân chia tài sản theo yêu cầu của nguyên đơn, không đồng ý yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Yên, bà Quyết, ông N, vì cho rằng từ trước đến nay chỉ có gia đình ông H và bố mẹ là ông C và bà L trực tiếp canh tác, sử d ng trên mảnh đất này, những người khác chỉ là những người có cùng hộ khẩu t i thời đi m cấp đất chứ không trực tiếp canh tác, sử d ng trên đất, không có quyền tài sản C đối với thửa đất trên.
Xét yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông N, bà Yên, bà Quyết:
Tài sản C được xem xét đ chia là quyền sử d ng đất: Nguồn gốc mảnh đất đang tranh chấp do ông C, bà L và các con là bà Châu, bà Mai làm công nhân của Nông trường Xa Cam, Công ty Cao su B, nên được công ty t o điều kiện về chỗ từ năm 1981. Tuy nhiên, đây chỉ là nguồn gốc t o lập, hình thành nên tài sản, t i đời đi m này không có chủ trương, chính sách gì liên quan đến việc cấp giao chủ quyền đất cho các hộ công nhân do Công ty cao su B thực hiện. Bản thân công ty Cao su không phải là cơ quan có thẩm quyền giao đất, công nhận quyền sử d ng đất cho hộ gia đình, cá nhân. Quyền sử d ng đất đối với mảnh đất thuộc thửa số 123, tờ bản đồ số 37, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước chỉ được xác lập và cấp cho hộ ông C lần đầu vào năm 1999, do ông H thực hiện thủ t c kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất và đứng tên chủ hộ trên Giấy chứng nhận. Theo quy định t i khoản 29 Điều 3 Luật Đất Đai 2013 quy định:“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống C và có quyền sử dụng đất C tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”Như vậy, nếu thiếu một trong ba yếu tố sau đây thì không được xem là thành viên “hộ gia đình sử d ng đất”: (1) Những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; (2) đang sống C; (3) có quyền sử d ng đất C t i thời đi m được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử d ng đất; nhận chuy n quyền sử d ng đất. Do đó, Tòa án căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất năm 1999 đ xác định thành viên hộ gia đình có quyền sử d ng đất, c th thành viên hộ gia đình có quyền sử d ng đất của hộ ông Nguyễn H t i thời đi m cấp đất gồm có: Ông Nguyễn C, sinh năm 1938; bà Trần Thị L, sinh năm 1942; bà Ph m Thị T1, sinh năm 1911 (đã chết); ông Nguyễn H, sinh năm 1971; bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1974; ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1976; ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1976 (đã chết, người thừa kế quyền nghĩa v bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1980 cùng 02 con Nguyễn HB, sinh năm 2008, Nguyễn Thị BT, sinh năm 2011) và ông Đỗ Minh D, sinh năm 1998. Tuy nhiên, khi thu thập tài liệu chứng cứ, xác định: ông Duy là cháu ngo i của ông C, con ruột của bà Nguyễn Thị Y và có C hộ khẩu t i thời đi m Nhà nước giao đất với hộ ông C, nH t i thời đi m này, ông Duy mới 01 tuổi, không có khả năng lao động, t o ra thu nhập, ông Duy cũng đã có ý kiến trình bày: thời đi m cấp đất lần đầu ông Duy còn quá nhỏ, không biết gì về nguồn gốc, quá trình sử d ng, quản lý mảnh đất trên, ông Duy không có công sức đóng góp t o lập gì trên đất, nên tranh chấp trên không liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Duy, ông Duy không có ý kiến gì về tranh chấp, cũng không có yêu cầu độc lập phân chia gì đối với tài sản trên. Do đó, Tòa án không xác định ông Duy là thành viên hộ có quyền sử d ng đất đối với mảnh đất đang tranh chấp.
Trong các thành viên hộ có C quyền sử d ng đất được xác định, người trực tiếp canh tác, quản lý trên đất từ thời đi m được Nhà nước giao quyền sử d ng đất đến nay là ông Nguyễn C, bà Trần Thị L và ông Nguyễn H, vợ ông H bà Nguyễn Thị O (bắt đầu C sống từ khi kết hôn khoảng năm 2000 đến nay). Các thành viên hộ còn l i: Ông N từ năm 1998 đi học đến năm 2005 lập gia đình chuy n về t i Bình Dương; bà Yên lập gia đình từ tháng 02/1997, sau khi lập gia đình tuy vẫn C hộ khẩu với cha mẹ nH thực tế đã chuy n ra sống riêng t i khu phố BT, phường A; ông Bảy lập gia đình năm 2006 C sống với cha mẹ khoảng 04-05 năm thì chuy n ra sống riêng từ đó đến nay. Vì vậy, khi chia quyền sử d ng đất ưu tiên giao quyền sử d ng đất cho thành viên là người hiện đang quản lý, sử d ng, canh tác trên đất, có xét đến công sức đóng góp, tôn t o, làm tăng giá trị quyền sử d ng đất của người trực tiếp quản lý, sử d ng đất.
Đối với tài sản gắn liền trên đất gồm: có 02 căn nhà và cây trồng:
02 phần hiện tr ng đang quản lý sử d ng giữa ông C, bà L và gia đình ông H rõ ràng, có hàng rào ngăn cách tách biệt, do đó, đối với tài sản trên đất gồm nhà và cây trồng thuộc phần diện tích thực tế quản lý sử d ng của bên nào, HĐXX xác định thuộc quyền s hữu riêng của bên đó. C th :
Trên phần diện tích ông C, bà L đang trực tiếp, quản lý có 01 căn nhà (nhà lo i 6), được xây dựng từ năm 1991, đến năm 2020 mới cải t o l i xây thêm 01 phần nhà đ nghỉ mát (nhà lo i 8), tổng diện tích 203.53m2 và các công trình ph kèm theo. Xác định căn nhà gốc được xây dựng từ 1991 khi tất cả các thành viên khác là con C của ông C, bà L còn nhỏ, ph thuộc nhiều vào cha mẹ, k từ khi các con tách ra riêng cũng do ông bà quản lý, sử d ng. Trên đất còn có các cây trồng: Tiêu, Điều, Chè, Mít, Vú Sữa,....và các cây hoa màu ngắn ngày khác: Bầu, Dứa,... đều nằm trong phần diện tích ông C, bà L đang quản lý trực tiếp, do ông C và bà L trồng, canh tác, các thành viên khác không chứng minh được có công sức đóng góp cùng chăm sóc, nên xác định đây là phần tài sản riêng của ông C, bà L với tổng giá trị định giá là 985.224.518đ (Chín trăm tám mươi lăm triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm mười tám đồng).
Trên phần diện tích ông H đang trực tiếp quản lý có 01 căn nhà (nhà lo i 4) tổng diện tích 86.24m2 và các công trình ph kèm theo. Căn nhà được ông H và bà O xây dựng khoảng năm 2000 khi kết hôn và C sống với nhau. Ngoài ra phía sau nhà có một số cây ăn trái mới trồng: Chôm chôm, hế. Những tài sản trên do ông H và bà O t o lập trong thời kỳ hôn nhân, quá trình xây dựng và quản lý tài sản không thành viên hộ nào chứng minh được công sức đóng góp, t o lập và phản đối, do đó đây là tài sản riêng của vợ chồng ông H, bà O, với tổng giá trị định giá là 218.559.149đ (Hai trăm mười tám triệu năm trăm năm mươi chín nghìn một trăm bốn mươi chín đồng).
Đối với bà Nguyễn Thị C; bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị O: Xét về nguồn gốc tài sản, năm 1981, bà Châu 17 tuổi, bà Mai 15 tuổi, chưa đủ tuổi lao động, nH đã theo cha mẹ là ông C, bà L tham gia làm công nhân Nông trường Xtrực tiếp, từ đó được Công ty Cao su xem xét t o điều kiện đất đ xây nhà . Sau này, dựa trên mảnh đất được công ty t o điều kiện làm nhà , khi nhà nước có chủ trương xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, mới được cấp quyền sử d ng đất từ năm 1999. Bà Châu và bà Mai là người có quan hệ huyến thống với ông C, bà L, nH thời đi m cấp đất năm 1999, không còn C sống với cha mẹ không có C hộ khẩu với cha mẹ, mà đã có cuộc sống riêng. Bà Châu trình bày xác định đây là tài sản của cha mẹ và không có yêu cầu chia, HĐXX không xem xét. Bà Mai quá trình tố t ng, Tòa án đã thông báo tư cách tham gia tố t ng, đồng thời triệu tập bà Mai làm việc, lấy ý kiến về việc yêu cầu chia tài sản C, nH bà Mai từ chối tham gia tố t ng, từ chối ký nhận văn bản tố t ng và không có ý kiến trình bày, HĐXX không xem xét. Bà Nguyễn Thị O – vợ ông Nguyễn H, sau khi kết hôn và C sống với ông H trên đất, có công sức đóng góp, tôn t o đối với tài sản C, tuy nhiên trong quá trình giải quyết không có yêu cầu Tòa án xem xét đối với công sức đóng góp, t o lập tài sản, HĐXX không xem xét.
Trong các thành viên hộ có quyền tài sản t i thời đi m nhà nước giao đất năm 1999, bà Ph m Thị T1, sinh năm 1911 đã chết năm 2003, ông C, bà L yêu cầu Tòa án xem xét giao phần quyền tài sản của bà T1 cho ông C, bà L quản lý. Xét, bà T1 là mẹ kế của ông C (không phải mẹ ruột) Theo Công văn trả lời số 136/CATX-QLHC ngày 10/3/2023 của Công an thị xã B về quan hệ nhân thân của bà T1, bà T1 có 03 người con là: Bà Nguyễn Thị Ngoắi (không rõ tên); Nguyễn Hữu Lẹ và Nguyễn C. Theo xác minh ông Lẹ, bà Ngoắi đều là anh em ruột của ông C. Ông Lẹ đã được Tòa án tiến hành lấy lời khai xác định không liên quan đến tài sản các bên đang tranh chấp, bà T1 không phải mẹ ruột của ông, không C sống cùng ông, nên ông không có ý kiến gì đối với phần quyền tài sản của bà T1 trong khối tài sản C cấp cho hộ gia đình ông C.
Bà Ngoắi tên chính xác là bà Nguyễn Thị Ngãi, sinh năm 1933, hiện nay đã 90 tuổi, sinh sống cùng con trai t i tổ 6, khu phố 6, phường Tân Nhơn Phú A, Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ngãi hiện tuổi đã cao, sinh ho t đi l i ph thuộc con cái, ông Đặng Linh con trai bà Ngãi có bản tự khai trình bày ý kiến: bà ngo i (bà T1) từ trước đến nay chỉ C sống với ông C t i mảnh đất hiện đang tranh chấp, phần phần quyền tài sản của bà T1 trong khối tài sản C cấp cho hộ gia đình ông C, bà Ngãi đồng ý đ ông C quản lý, sử d ng, không có tranh chấp hay yêu cầu khác.
Do đó, phần quyền tài sản của bà T1 trong khối tài sản C cấp cho hộ gia đình ông C, giao cho ông C, bà L quản lý là phù hợp, sau này nếu có yêu cầu về phân chia di sản thừa kế của bà T1 sẽ giải quyết thành v án khác.
Căn cứ Công văn số 155/CN-VPĐ ĐĐ ngày 09/5/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng lý đất đai thị xã B: Điều kiện đ tách thửa của thửa đất 123, tờ bản đồ 37, …phải thỏa mãn điều kiện được quy định t i Quyết định 27/2020/QĐ-UBND ngày 16/10/2020 của UBND tỉnh Bình Phước. Đối chiếu với kết quả đo đ c ngày 03/8/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B: Thửa đất số 123, tờ bản đồ 37, theo đo đ c hiện tr ng diện tích 2835.5m2, giảm 15.5m2 so với Giấy chứng nhận. Trong đó có 200m2 đất nông thôn, còn l i là đất trồng cây lâu năm. Đáp ứng đủ điều kiện tách thửa tối đa 03 thửa, không th tách nhỏ thành đủ 07 phần diện tích độc lập, vì không đáp ứng điều kiện, ảnh hư ng đến tài sản gắn liền trên đất của các thành viên hộ khác. Xét trong 07 thành viên hộ có C quyền sử d ng đất, người trực tiếp quản lý, canh tác sử d ng trên đất từ thời đi m được Nhà nước giao đất năm 1999 đến nay là ông C, bà L và ông H. Cả ông C, bà L và ông H đã xây dựng nhà kiên cố, sinh sống ổn định trên một phần diện tích hiện đang trực tiếp quản lý, nên ưu tiên giao quyền sử d ng đất, trong đó có diện tích đất cho ông C, bà L và ông H. Các thành viên hộ còn l i được chia quyền sử d ng đất nông nghiệp quy đổi ra giá tri, theo giá trị định giá.
Giá đất theo giá trị định giá:
200m2 đất nông thôn: 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng)/m2 = 110.000.000đ (Một trăm mười một triệu đồng).
2635.5m2 đất nông nghiệp: 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng)/m2 = 658.875.000đ ( Sáu trăm năm mơi tám triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)
Tổng giá trị đất; 768.875.000đ (Bảy trăm sáu mươi tám triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Chia thành 07 phần quyền bằng nhau, mỗi phần quyền trị giá 109.840.000đ (Một trăm lẻ chín triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tổng diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất được cấp của hộ ông H là 2851m2, tuy nhiên, hiện tr ng sử d ng hộ ông C và ông H đang quản lý là 2835.5m2, có sự xê dịch về ranh hiện tr ng với 02 hộ giáp ranh hai bên, một bên ranh biến động giảm diện tích 142.3m2- ranh giáp thửa 122; Một ranh biến động tăng diện tích tích tổng là 130.3m2 – ranh giáp thửa 124, hiện nay là thửa 179 theo sổ cấp đổi năm 2015. C th :
Có 02 phần diện tích ông H đang trực tiếp quản lý sử d ng gồm 4.7m2 và 8.5m2; Và 01 phần diện tích 118.1m2 ông C đang trực tiếp quản lý, sử d ng thuộc thửa 179, tờ bản đồ số 37, diện tích 2440m2 theo Giấy chứng nhận số BU280085, số vào sổ CH-02608 ngày 01/7/2015 do UBND thị xã B cấp cho ông Trần C, sinh năm 1981. Ông Công trong biên bản lấy lời khai trình bày, không có tranh chấp đối với phần diện tích trên, thừa nhận ranh mốc các bên sử d ng ổn định, không phát sinh tranh chấp từ trước tới nay, thống nhất sử d ng theo ranh hiện tr ng các bên đang sử d ng hiện nay theo sơ đồ đo đ c được phê duyệt ngày 03/8/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền yêu cầu điều chỉnh sẽ phối hợp thực hiện theo quy định.
Đối với phần diện tích 142.3m2 thuộc thửa 123, tờ bản đồ 37, thửa 122 đang quản lý sử d ng. Ông Trần Đình Thuồng là chủ sử d ng đất (hiện ông Thuồng đã chết), các người thừa kế thuộc hàng thừa kế của ông Thuồng theo pháp luật, chưa làm thủ t c kê khai thừa kế, ông C, bà L người đang trực tiếp quản lý sử d ng phần đất giáp ranh với thửa 122 trình bày ranh hiện tr ng giữa gia đình ông và thửa 122 ổn định, không tranh chấp, đồng ý sử d ng đất theo đúng ranh hiện tr ng, trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất thống nhất điều chỉnh theo đúng ranh hiện tr ng.
Đối với những người thừa kế quyền nghĩa v của chủ sử d ng đất thửa 122, quá trình giải quyết không tham gia v án, không có ý kiến trình bày, hiện không phát sinh tranh chấp, khi nào có yêu cầu giải quyết tranh chấp, sẽ được giải quyết thành một v án khác.
HĐXX căn cứ vào diện tích đất hiện tr ng hộ ông H và ông C đang thực tế sử d ng theo kết quả đo đ c được phê duyệt ngày 03/8/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B đ phân chia quyền tài sản C cho hộ gia đình.
Từ các căn cứ nêu trên, HĐXX chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Ông N, bà Yên, bà Quyết.
Ông Nguyễn Hữu N, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Q nếu chia quyền sử d ng đất, mỗi người được chia diện tích là 405.1m2 đất trồng cây lâu năm, tuy nhiên không đủ điều kiện đ tách thửa độc lập, nên được chia giá trị phần quyền sử d ng đất được hư ng. Tuy nhiên, ông N, bà Yên, bà Quyết đều tự nguyện đồng ý giao toàn bộ phần diện tích đất được chia cho ông C và bà L quản lý, không yêu cầu ông C, bà L trả l i giá trị phần quyền tài sản được hư ng. Ông C và bà L đồng ý với ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có yêu cầu độc lập trên. Xét, sự thỏa thuận trên của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không vi ph m điều cấm của luật, không trái đ o đức xã hội, được HĐXX ghi nhận.
Chia cho ông Nguyễn H diện tích 324.9m2 (có 60m2 đất nông thôn), trong đó có 02 phần diện tích biến động tăng gồm 4.7 và 8.5m2 thuộc thửa 124 cũ (hiện nay là thửa 179), tờ bản đồ 37 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho ông Công. Ông Công chủ sử d ng đất thửa 179 thống nhất không tranh chấp về ranh hiện tr ng, đồng ý điều chỉnh Giấy chứng nhận theo đúng ranh hiện tr ng đang sử d ng. Giá trị của phần quyền sử d ng đất ông H được chia là 99.225.000đ (Chín mươi chín triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Do ông H đã được ưu tiên phân chia phần quyền sử d ng đất có diện tích đất nông thôn, nên ông C, bà L không có nghĩa v bù trừ thêm giá trị phần chênh lệch quyền sử d ng đất cho ông H.
Giao cho ông C, bà L diện tích là 2522.8m2, có 140m2 đất nông thôn (trong đó có phần diện tích biến động tăng là 118.1m2 thuộc thửa 124 cũ (hiện nay là thửa 179), tờ bản đồ 37 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho ông Công. Ông Công chủ sử d ng đất thửa 179 thống nhất không tranh chấp về ranh hiện tr ng, đồng ý điều chỉnh Giấy chứng nhận theo đúng ranh hiện tr ng đang sử d ng). Phần diện tích ông C, bà L được giao, c th gồm: 02 phần quyền sử d ng đất của ông C, bà L được chia; 01 phần quyền sử d ng đất của bà T1 (là di sản thừa kế) giao cho ông C, bà L quản lý sử d ng và 03 phần quyền sử d ng đất của 03 thành viên hộ khác là ông N, bà Yên, bà Quyết đồng ý giao cho ông C, bà L quản lý, sử d ng.
Ông Nguyễn H có nghĩa v thực hiện thủ t c sang tên phần quyền sử d ng đất diện tích 2522.8m2, trong đó có 140m2 đất nông thôn cho ông Nguyễn C và bà Trần Thị L. Trường hợp, ông H không hợp tác thực hiện nghĩa v , ông C, bà L có quyền liên hệ trực tiếp với cơ quan có thẩm quyền đ thực hiện thủ t c đăng ký biến động, tách thửa, công nhận quyền sử d ng đất.
Kiến nghị với Ủy ban nhân dân thị xã B, S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước, Cơ quan có thẩm quyền thu hồi các Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số phát hành Y543666, số vào sổ 00099QSDĐ/627/QĐUB.H đối với thửa thửa số 123, tờ bản đồ số 37, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 22/04/2004 cho hộ ông Nguyễn H và Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BU 280085, số vào sổ CH-02608 đối với thửa đất số 179, tờ bàn đồ số 37, tọa l c t i ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân thị xã B cấp ngày 01/7/2015 cho ông Trần C, sinh năm 1981, đ điều chỉnh theo đúng ranh hiện tr ng sử d ng của các chủ sử d ng đất và thực hiện thủ t c đăng ký biến động, tách thửa, công nhận quyền sử d ng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho các đương sự trong v án theo quyết định của Tòa án.
Việc tách thửa, cập nhật biến động, công nhận quyền sử d ng đất, điều chỉnh ranh biến động cho các bên đương sự, được thực hiện theo Sơ đồ đo đ c đã được phê duyệt ngày 03/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B.
Về chi phí tố t ng: Ông C, bà L tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản 3.000.000đ (Ba triệu đồng), được trừ vào số tiền t m ứng đã nộp theo phiếu thu số ngày 08/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã B.
Về án phí: Căn cứ theo Theo quy định t i Điều 147 của Bộ luật tố t ng dân sự, Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án; Ông Nguyễn C và bà Trần Thị L là người cao tuổi, được miễn tiền án phí theo quy định. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận yêu cầu chia một phần quyền tài sản, nH đã đồng ý tự nguyện giao l i phần quyền tài sản là quyền sử d ng đất được chia cho ông C và bà L quản lý, không yêu cầu được nhận giá trị và phần chênh lệnh giá trị của phần quyền tài sản được chia, nên ông N, bà Yên, bà Quyết phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự không có giá ng ch, được trừ vào số tiền t m ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0002791, 0002792,0002793 ngày 17/3/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự thị xã B.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các hoản 1 Điều 102, Điều 212, Điều 219, Điều 220 Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 29 Điều 3; Điều 167, 168, 169, 179, Điều 203 Luật đất đai 2013;
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố t ng dân sự 2015.
Căn cứ Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn ông Nguyễn C, bà Trần Thị L và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Ông Nguyễn Hữu N, bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị Q về việc phân chia tài sản C là quyền sử d ng đất cấp cho hộ gia đình.
Chia cho ông Nguyễn H 324.9m2 đất, trong đó có 60m2 đất nông thôn, có phần căn nhà hiện tr ng trên đất ông H đang sử d ng, gồm 02 phần diện tích biến động tăng là 4.7 và 8.5m2 thuộc thửa 124 cũ (hiện nay là thửa 179), tờ bản đồ 37 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, ông H đang quản lý, sử d ng.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự là ông Nguyễn C, bà Trần Thị L, ông Nguyễn Hữu N, bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị Q: Giao cho ông Nguyễn C và bà Trần Thị L tổng diện tích là 2522.8m2, trong đó có 140m2 đất nông thôn, có phần căn nhà hiện tr ng trên đất ông C đang sử d ng, (gồm phần diện tích biến động tăng là 118.1m2 thuộc thửa 124 cũ (hiện nay là thửa 179), tờ bản đồ 37 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, ông C đang quản lý, sử d ng.
(Thực hiện theo Sơ đồ đo đạc được phê duyệt ngày 03/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B, tỉnh Bình Phước).
Ông H có nghĩa v thực hiện thủ t c sang tên phần quyền sử d ng đất diện tích 2522.8m2, trong đó có 140m2 đất nông thôn l i cho ông Nguyễn C và bà Trần Thị L. Trường hợp, ông H không hợp tác thực hiện nghĩa v , ông C, bà L có quyền liên hệ trực tiếp với cơ quan có thẩm quyền đ thực hiện thủ t c đăng ký biến động, tách thửa, công nhận quyền sử d ng đất.
Kiến nghị với Ủy ban nhân dân thị xã B, S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước, Cơ quan có thẩm quyền thu hồi các Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số phát hành Y543666, số vào sổ 00099QSDĐ/627/QĐUB.H đối với thửa thửa số 123, tờ bản đồ số 37, tọa l c t i tổ 06, ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 22/04/2004 cho hộ ông Nguyễn H và Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BU 280085, số vào sổ CH-02608 đối với thửa đất số 179, tờ bàn đồ số 37, tọa l c t i ấp 17, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân thị xã B cấp ngày 01/7/2015 cho ông Trần C, sinh năm 1981, đ điều chỉnh theo đúng ranh hiện tr ng sử d ng của các chủ sử d ng đất và thực hiện thủ t c đăng ký biến động, tách thửa, công nhận quyền sử d ng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho các đương sự trong v án theo quyết định của Tòa án.
2. Về chi phí tố t ng: Ông Nguyễn C và bà Trần Thị L tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) theo phiếu thu ngày 08/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã B.
3. Về án phí: Căn cứ theo Theo quy định t i Điều 147 của Bộ luật tố t ng dân sự, Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án; Ông Nguyễn C và bà Trần Thị L là người cao tuổi, được miễn tiền án phí. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận một phần quyền tài sản, tuy nhiên đã đồng ý tự nguyện giao l i phần quyền tài sản cho ông C và bà L quản lý, ông N, bà Yên, bà Quyết phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự không có giá ng ch, được trừ vào số tiền t m ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0002791, 0002792, 0002793 ngày 17/3/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự thị xã B.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v án có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày k từ ngày tuyên án, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt t i phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày k từ ngày nhận được bản án hoặc k từ này bản án được tống đ t hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - V SND thị xã B; - Chi c c THADS thị xã B; - UBND thị xã B; - S TN, MT tỉnh Bình Phước; - CNVP. Đ đất đai thị xã B; - Đương sự; - Lưu hồ sơ v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Nc Mai Phƣơng |