vanban.org

Bản án 13/2023/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc D.

Xử: Buộc chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ phải trả nợ cho ông Nguyễn Ngọc D và bà Nguyễn Thị Đ số tiền 35.500.000đ Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 105 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/DSST
Ngày 08 tháng 9 năm 2023
“ V/v Kiện đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà.

Ông Vũ Mạnh Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hiền – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Sông Lô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Hoàng Miên - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2023/TLST - DS ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc kiện đòi tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXX- ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự và Quyết định Hoãn phiên tòa số 37/2023/QĐST-DS ngày 28/8/2023, giữa:

1/ Nguyên đơn: anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: thôn V, xã T, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

2/ Bị đơn: chị Ngô Thị H, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

3/ Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Anh Lỗ Bá Đ, sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17 tháng 5 năm 2023 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc D trình bày: Năm 2019 tôi có bán sơn cho vợ chồng chị Ngô Thị H, anh Lỗ Bá Đ ở thôn H, xã Đ để sơn ngôi nhà hai tầng của chị H, anh Đ giữa tôi và chị H có thỏa thuận các loại sơn, màu sơn theo mã số do chị H chọn. Sau khi sơn xong nhà giữa tôi và chị H tính toán tiền sơn và tiền công thợ sơn tổng cộng là 70.130.000đ, tôi đã ra hàng cộng tiền thẻ khuyến mại là 630.000đ và chốt số tiền còn lại là 69.500.000đ chị H và anh Đ phải thanh toán cho tôi. Trước đó chị H đã thanh toán ứng tiền sơn và tiền công thợ là 25.000.000đ, nên còn nợ lại 44.500.000đ. Hai bên thỏa thuận mỗi tháng chị H, anh Đ trả cho tôi số tiền là 5.000.000đ và viết giấy ghi nợ ngày 26/10/2019 có chữ ký chị H đến ngày 17/12/2019 chị H trả thêm cho tôi được 4.000.000đ và đến ngày 20/01/2020 chị H trả nợ cho tôi là 5.000.000đ. Số tiền chị H và anh Đ còn nợ lại của tôi là 35.500.000đ. Từ đó đến nay tôi đã nhiều lần đến nhà chị H đòi và nhắc nợ vợ chồng chị H, anh Đ trả nợ cho tôi nhưng chị H anh Đ đều chây ì cố ý không trả nợ cho tôi.

Nay tôi yêu cầu vợ chồng chị H và anh Đ, phải trả nợ cho vợ chồng tôi số tiền còn nợ là 35.500.000đ và không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn chị Ngô Thị H trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa vắng mặt: Nhưng tại bản tự khai đề ngày 01/8/2023 chị H trình bày; Năm 2019 vợ chồng chị có hợp đồng mua sơn và sơn nhà với ông Nguyễn Ngọc D, trong quá trình sơn nhà thì không đúng màu sơn vợ chồng chị đã chọn và giữa chồng chị và anh Đ với ông D đã xảy ra mâu thuẫn. Sau khi sơn nhà xong vợ chồng chị đã thanh toán cho ông D tiền sơn và tiền công, chị xác nhận hiện nay vợ chồng chị còn nợ ông D tiền sơn và tiền công sơn nhà là 35.500.000đ. Nay anh Đ đi làm vắng nhà, quan điểm của chị cũng là quan điểm của anh Đ nên chị không có sửa đổi bổ sung gì. Do hoàn kinh tế của chị gặp khó khăn nên vợ chồng chị xin trả nợ cho ông D mỗi tháng 2.000.000đ kể từ tháng 9 năm 2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Anh Lỗ Bá Đ trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa vắng mặt không lý do. Quá trình thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Sông Lô đã giao thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ đều vắng mặt và không thể hiện quan điểm của mình về việc khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc D. Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình và địa phương xác định anh Đ biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án nhưng cố tình không đến Tòa án làm việc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Đ tại phiên tòa vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị trình bày; Chị là vợ ông Nguyễn Ngọc D hiện nay Tòa án nhân dân huyện Sông Lô đang giải quyết vụ án mà anh D khởi kiện chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ ở thôn Hh, xã Đ, huyện Sông Lô, có nợ tiền công, tiền sơn của anh D (là chồng tôi) với số tiền 35.500.000đ. Số tiền này là tài sản chung của vợ chồng. Nay anh D khởi kiện yêu cầu chị H anh Đ phải trả lại vợ chồng chị số tiền trên.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô phát biển quan điểm về việc tuân thủ các quy định tố tụng của Thẩm phán về quá trình nhận đơn, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, nguyên đơn, người liên quan chị Điệp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đồng không chấp hành các quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô kiến nghị. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đồng thực hiện nghiêm quy định Bộ luật tố tụng dân sự

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 105 các Điều 166, 280, 357, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc D. Buộc chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ phải liên đới trả nợ cho ông Nguyễn Ngọc D số tiền 35.500.000đ.

Về án phí: chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ phải chịu án phí theo quy định. Trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự cho ông D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Ngọc D và chị Ngô Thị H, anh Lỗ Bá Đ là quan hệ tranh chấp dân sự, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được quy định tại các Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp: chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ phải trả cho ông Nguyễn Ngọc D và bà Nguyễn Thị Đ số tiền 35.500.000 đồng tiền nợ tiền sơn và tiền công sơn nhà. Xác định đây là tranh chấp kiện đòi tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật dân sự thì không áp dụng thời hiệu.

Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này nguyên đơn, người liên quan chị Điệp thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đ không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình đã được tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng. Chị Đ có đơn xin vắng mặt, chị H và anh Đ vắng mặt lần 2 không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Đ và chị Đ.

Về nội dung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã thể hiện: ông Nguyễn Ngọc D khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ trả nợ cho vợ chồng ông số tiền 35.500.000đ và không tính lãi. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn chị Ngô Thị H vắng mặt, nhưng tại bản tự khai đề ngày 01/8/2023 chị xác nhận vợ chồng chị còn nợ tiền sơn và tiền công của ông D số tiền là 35.500.000đ. Nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn việc làm ăn bị thua lỗ nên chị xin để vợ chồng chị được trả dần cho ông D mỗi tháng 2.000.000đ kể từ tháng 9/2023 đến khi trả xong nợ. Xét thấy yêu cầu của ông D yêu cầu buộc vợ chồng chị H, anh Đ phải trả nợ số tiền 35.500.000đ là có căn cứ. Bị đơn chị Ngô Thị H cũng thừa nhận vợ chồng chị có nợ số tiền sơn nhà như ông D khởi kiện là đúng và chị xin để vợ chồng chị được trả dần ông D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đ có cùng quan điểm với ông D. Anh Đ biết Tòa án giải quyết nhưng không có quan điểm. Hiện nay chị H và anh Đ tồn tại quan hệ hôn nhân việc chị H hợp đồng sơn nhà làm phát sinh quyền và nghĩa vụ liên đới của vợ chồng theo Điều 27 luật Hôn nhân gia đình. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 105 các Điều 166, 280, 357 Bộ luật dân sự. Buộc chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ phải liên đới trả nợ cho ông Nguyễn Ngọc D và bà Nguyễn Thị Đ số tiền 35.500.000đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ phải chịu án phí theo giá ngạch. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông D theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 105 các Điều 166, 280, 357 Bộ luật dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc D.

Xử: Buộc chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ phải trả nợ cho ông Nguyễn Ngọc D và bà Nguyễn Thị Đ số tiền 35.500.000đ

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật tố tụng dân sự.

Theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Ngô Thị H và anh Lỗ Bá Đ phải chịu 1.775.000đ (một triệu bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đồng). Hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc D tiền tạm ứng án phí đã nộp 850.000đồng theo biên lai số: 0002471 ngày 22/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô.

3/ Án xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ