- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng C về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Ngô Diệp Tâm O.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/DS-ST Ngày: 10-4-2023. V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Sơn
2. Ông Trương Minh Thọ
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Bích Hợp – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 243/2022/TLST-DS ngày 11/11/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXX-DS ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ông Đặng C, sinh năm: 1975 Địa chỉ: số X thôn Q, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng Bị đơn: Bà Ngô Diệp Tâm Oh, sinh năm: 1987 Địa chỉ: số T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Lâm Đồng)
Ông C có mặt; Bà O có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn ông Đặng Ctrình bày:
Do có quen biết với nhau nên ngày 10/3/2022, bà Ngô Diệp Tâm O vay của ông số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), bà O hẹn 02 ngày sau sẽ trả, hai bên giao nhận bằng tiền mặt nhưng không viết giấy tờ vay. Đến nay, bà O vẫn chưa trả số tiền trên nên ông yêu cầu bà O trả số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
Tại đơn trình bày ngày 15/02/2023 của bà Ngô Diệp Tâm O thể hiện: Vào ngày 10/3/2022, bà có mượn của ông Đặng C số tiền 50.000.000đ để sử dụng vào việc cá nhân và hẹn vài hôm sau sẽ trả. Tuy nhiên, ngày 13/3/2022 bà bị bắt do tổ chức sử dụng chất ma túy nên chưa có điều kiện để trả nợ. Nay ông C yêu cầu bà trả số tiền 50.000.000đ trên thì bà đồng ý trả.
Ngày 15/02/2023, bà Ngô Diệp Tâm O có đơn xin vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vắng mặt.
Ngày 02/3/2023, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay,
Ông C yêu cầu bà O thanh toán số tiền vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi
Bà Ngô Diệp Tâm O có đơn xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng C. Buộc bà Ngô Diệp Tâm O có trách nhiệm thanh toán cho ông Đặng C số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn bà Ngô Diệp Tâm O có đơn xin xét xử vắng mặt, Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà O là đúng quy định của pháp luật. Xuất phát từ việc giữa ông C và bà O có hợp đồng vay tiền, song do bà O không thanh toán nợ nên phát sinh tranh chấp. Do vậy, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Đà Lạt nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: ông Đặng C yêu cầu bà O trả số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) vay vào ngày 10/3/2022. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thấy rằng tuy khi thực hiện giao dịch vay tài sản, ông C và bà O không lập hợp đồng vay nhưng tại đơn trình bày ngày 15/02/2023, bà O thừa nhận có vay của ông C số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và bà O đồng ý trả số tiền này. Do vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, buộc bà O thanh toán cho ông C số tiền vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
Về án phí: Buộc bà O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho ông C theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 36, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng C về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Ngô Diệp Tâm O.
Buộc bà Ngô Diệp Tâm O có trách nhiệm thanh toán cho ông Đặng C số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Buộc bà Ngô Diệp Tâm O phải chịu số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Đặng C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000 (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002430 ngày 11/11/2022 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự .
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt, niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tp Đà Lạt; - Chi cục THADS tp. Đà Lạt; - Các đương sự; - Lưu AV - HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thanh Thủy |