vanban.org

Bản án 13/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tụng dân sự năm 2015; Điều 463; 466; và Điều 357; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ch đối với Hợp tác Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay"
  • Tòa quyết gì? tụng dân sự năm 2015; Điều 463; 466; và Điều 357; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 13/2023/DS-ST
Ngày: 08-02-2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn H

2. Bà Phan Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên toà: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 246/2022/TLST-DS ngày 11

tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số: 628/2022/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2022 và

Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2022/QĐST-DS, ngày 11 tháng 01 năm 2023

giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1952; địa chỉ: tổ 03, ấp

Long Thuận 2, xã LĐ A, huyện CM, tỉnh AG.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Phúc, sinh

năm 1983; địa chỉ: số 477A/24, Quản Cơ Thành, khóm Bình Thới 3, phường

Bình Khánh, thành phố LX, tỉnh AG; có mặt.

2. Bị đơn: Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình (được viết tắt HTX Long

Bình); địa chỉ: ấp Long Bình, xã LĐ A, huyện CM, tỉnh AG.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn H , sinh năm 1957; địa chỉ:

ấp Long Bình, xã LĐ A, huyện CM, tỉnh AG; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và tự khai ông Nguyễn Văn Phúc người đại diện

hợp pháp của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Ông Nguyễn Văn Ch là xã viên của Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình,

vào ngày 12/6/ 2018 do cần nguồn vốn để hoạt động kinh doanh nên Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình vay của ông Nguyễn Văn Ch số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, trả vốn mỗi năm trả 50.000.000 đồng, trả lãi hàng tháng, thời hạn trả vốn từ năm 2019 đến năm 2026. Sau đó, HTX Long Bình trả lãi đến tháng 8/2021 thì không trả lãi, trả vốn như đã thỏa thuận.

Vì vậy, ông Nguyễn Văn Ch yêu cầu HTX Long Bình có trách nhiệm trả

số tiền vốn 400.000.000 đồng và lãi tính từ ngày 12/9/2021 cho đến ngày xét xử.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi hợp đồng vay vốn, phiếu thu, biên bản họp của HTX Long Bình, biên nhận tiền ngày 12/6/2018.

2. Bị đơn ông Lê Văn H là người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã

nông nghiệp Long Bình trình bày: Vào ngày 12/6/2018 Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình có vay của ông Nguyễn Văn Ch số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, trả vốn mỗi năm trả 50.000.000 đồng, trả lãi hàng tháng, thời hạn trả vốn từ năm 2019 đến năm 2026. Sau đó, HTX Long Bình trả lãi đến tháng 8/2021 thì không thực hiện trả lãi, do tình hình dịch bệnh HTX Long Bình chưa có nguồn thu nên ngưng thanh toán lãi cho ông Chtheo thỏa thuận. Từ khi vay cho đến nay HTX Long Bình chưa trả vốn và còn nợ lãi từ tháng 9/2021 cho đến nay. Nay theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông thống nhất số tiền vay và lãi, do hiện nay ông H bệnh nên đã nghỉ giao cho người khác điều hành hoạt động kinh doanh, nên HTX Long Bình có trách nhiệm trả nợ vay cho ông Ch.

Tại phiên tòa:

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ quan điểm như đã trình bày,

và không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.

Bị đơn vẫn giữ quan điểm như đã trình bày và không giao nộp thêm tài

liệu chứng cứ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến

về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật

Dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ch.

- Buộc Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình trả ông Nguyễn Văn Ch

400.000.000 đồng và tính lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 12/9/2021 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được

xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn

về số tiền vay nên quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản được quy định tại

khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; và bị đơn có nơi cư trú huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý, giải

quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Về thời hiệu khởi kiện: Giao dịch dân sự về hợp đồng vay tài sản

được xác lập năm 2018 đến năm 2021, căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015; Điều 157; 429 Bộ luật dân sự năm 2015, vụ án còn trong thời hiệu

khởi kiện.

Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng: Ông Nguyễn Văn Ch và ông

Lê Văn H thống nhất, vào ngày 12/6/2018, Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình

có vay của ông Ch số tiền 400.000.000 đồng, mục đích vay để có kinh phí hoạt

động kinh doanh, lãi suất 1%tháng, trả vốn vay là 50.000.000 đồng/năm, thời

hạn trả vốn từ năm 2019 đến năm 2026. Sau đó, HTX Long Bình trả lãi cho ông

Ch đến tháng 8/2021 thì không thực hiện trả lãi, do tình hình dịch bệnh HTX

Long Bình chưa có nguồn thu nên ngưng thanh toán lãi và vốn cho ông Ch theo

thỏa thuận. Khi vay hai bên có thỏa thuận bằng lời nói, nếu không thực hiện

đúng theo hợp đồng vay vốn thì phía ông Ch có quyền khởi kiện yêu cầu trả

trước thời hạn của hợp đồng. Hiện HTX Long Bình còn nợ vốn và lãi từ tháng

9/2021 cho đến nay. Vì vậy, theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông H

thống nhất số tiền vay 400.000.000 đồng, và nợ lãi từ ngày 12/9/2021 cho đến

nay. Hiện nay HTX Long Bình vẫn còn hoạt động và ông Lê Văn H - Chủ tịch

Hội đồng quản trị HTX Long Bình đại diện theo pháp luật theo giấy đăng ký

kinh doanh. Do Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên

ông Ch khởi kiện yêu cầu Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình trả số nợ vốn là

400.000.000 đồng phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự

năm 2015 nên được chấp nhận.

Về yêu cầu lãi suất, hai bên thỏa thuận mức lãi suất 1%/tháng và từ

ngày 12/9/2021 đến nay Hợp tác xã không tiếp tục trả lãi cho ông Ch, làm ảnh

hưởng đến quyền lợi của ông Ch nên căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự, chấp

nhận yêu cầu tính lãi suất 1%/ kể từ ngày 12/9/2021 đến ngày 08/02/2023 được

tính cụ thể như sau: 400.000.000 đồng x 17 tháng, 01 ngày x 1%/ tháng =

68.533.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 468.533.000 đồng.

Vì vậy, buộc Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình có nghĩa vụ trả cho ông

Ch số tiền là 468.533.000 đồng là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình phải

chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho ông Ch là 468.533.000 x 5%= 23.426.000 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015; Điều 463; 466; và Điều 357; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12

năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Ch đối với Hợp tác

xã nông nghiệp Long Bình.

Buộc Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình có nghĩa vụ trả số tiền

468.533.000đồng (trong đó vốn 400.000.000 đồng, lãi 68.533.000 đồng tính đến ngày 08/02/2023)cho ông Nguyễn Văn Ch.

Kể từ ngày 09/02/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành

án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất của hợp đồng ngày 12/6/2018.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Hợp tác xã nông nghiệp Long Bình phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm là 23.426.000 đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các

đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ