- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "DSPT Nguyễn Văn D - Nguyễn Văn Q"
- Căn cứ chính? Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 13/2022/QĐ - PT | Thái Nguyên, ngày 21 tháng 02 năm 2022 |
QUY T Đ NH
HỦY BẢN ÁN
TH M VÀ Đ NH CHỈ GIẢI QUY T V ÁN N
TÒA ÁN NH N N TỈNH THÁI NGUYÊN
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Lý
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và bà Lê Thị Hồng Phương
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS - ST ngày 09 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo như sau:
Ngày 22/7/2021, bị đơn là anh Nguyễn Văn Q không nhất trí với quyết định đã kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 26/7/2021, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị B kháng cáo đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
X T THẤY:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xin rút toàn bộ đơn kháng cáo. Nguyên đơn đồng ý việc rút kháng cáo của bị đơn và xin rút toàn bộ đơn khởi kiện và đơn kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nhất trí với việc nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo đã được bị đơn đồng ý, bị đơn cũng xin rút đơn kháng cáo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận việc rút đơn khởi kiện, đơn kháng cáo của nguyên đơn và việc rút toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án là có căn cứ.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 311 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
QUY T Đ NH:
1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS-ST ngày 09/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 41/2021/TLPT-DS ngày 17/8/2021 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954;
Đều trú tại: Xóm ML, xã ML1, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.
Ông D ủy quyền cho bà B theo Văn bản ủy quyền lập ngày 05/10/2020 tại UBND xã ML1, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị B: Ông Phạm Ngọc K, sinh năm 1955 - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư HV, Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983;
Trú tại: Xóm ML, xã ML1, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Ngô Thị T, sinh năm 1985 (Vợ anh Q)
+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; (Con bà B, ông D)
+ Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1990 (Vợ anh H) Cùng địa chỉ: Xóm ML, xã ML1, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.
2. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Các đương sự đã nộp và đã chi phí xong không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí:
3.1 Về án phí sơ thẩm:
Anh Nguyễn Văn Q, chị Ngô Thị T phải liên đới chịu 17.337.289đ (mười bẩy triệu, ba trăm ba mươi bẩy nghìn, hai trăm tám chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.
3.2. Về án phí phúc thẩm:
- Anh Nguyễn Văn Q phải chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí phúc thẩm. Anh Q đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Anh Q được trả lại 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006663 ngày 28/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị B.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND huyện Đồng Hỷ; - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ; - UBND xã Minh Lập; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; Toà Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG X T XỬ TH M PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Lý |