- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Chòi P, Hoàng Văn S, Hà Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Đặng Chòi P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HSST g y: 12/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ma Thị Thầm.
2. Bà Chu Thị Thi.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Triệu Xuân Trìu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2022/HSST, ngày 01/6/2022 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2022/QĐXXST-HS ng y 30 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:
Đặng Chòi P; giới tính: Nam; tên gọi khác: Triệu ăn X; sinh ngày: xx/xx/19xx; nơi sinh: Tỉnh Cao ng; nơi cư trú: Thôn
, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự ; đảng đo n: Không; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Xóa mù chữ; con ông Triệu Chàn Q và bà Triệu Mùi M sinh năm 19 ; vợ: Đặng Thị sinh năm 19xx; con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/10/2021 đến ng y 28/10/2021 thì được thay đổi b ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
Hoàng Văn S; giới tính: Nam; tên gọi khác: Hoàng Chàn L; sinh ngày: xx/xx/19xx; nơi sinh: Huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao B ng; nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; đảng đo n: Không; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Hoàng Thồng K sinh năm 19 và bà Triệu Mùi D (Tên gọi khác Hoàng Thị ; Ho ng Mùi ) sinh năm 19 ; vợ: Triệu Mùi M sinh năm 19 , đ ly hôn; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005 con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 11/11/2014 bị Tòa án huyện Pác Nặm xử phạt 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; tiền sự: Có một tiền sự, ngày 03/11/2020 bị Công an huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Bị cáo bị tạm giữ từ ng y 20/10/2021 đến ng y 28/10/2021 thì được thay đổi b ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, hiện nay đang bị tạm giam trong vụ án khác. Có mặt.
Hà Văn C t n gọi khác: Không), sinh ngày: xx/xx/19xx. ơi sinh: huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Thôn
, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Trồng trọt; đảng đo n: Không; dân tộc: Sán Chỉ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lố 6/12; họ tên cha (Cha nuôi): Hà ăn K đ chết, họ tên mẹ (Mẹ nuôi): Lý Thị M sinh năm 19 ; vợ: Đặng Thị V sinh năm 19 ; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012 con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2021 đến ng y 28/10/2021 thì được thay đổi b ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Đinh Xuân Diệu – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý h nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 20/10/2021, tổ công tác Công an huyện Pác Nặm, tuần tra tại thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện Hà ăn C, trú tại Hthôn N, xã B đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B2-xxx.xx chở theo sau là Ho ng ăn S, trú tại Thôn N, xã B có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi tổ công tác yêu cầu dừng e để kiểm tra thì C thả một gói nhỏ được gói b ng túi nilon màu trắng từ tay trái ra đường. Tổ công tác đ niêm phong vào phong bì ký hiệu C5 và tạm giữ cùng một số tài sản khác để tiến h nh điều tra theo quy định.
Ho ng ăn S và H ăn C khai nhận: Bản thân C và S đều nghiện chất ma túy, C biết S biết chỗ có ma túy để bán, nên khoảng 13 giờ ngày 20/10/2021, Chia điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B2-xxx.xx của bà Lý Thị M và mang theo số tiền 700.000 đồng đi đến Thôn N, xã B để rủ S đi mua ma túy về cùng sử dụng thì S đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, C điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97B2-xxx.xx chở theo S ngồi phía sau đi đến nhà ở của Đặng Chòi P tại thôn P, xã N, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn khi đến nơi S v C vào ngồi uống nước tại bàn uống nước ở sân nhà của Đặng Chòi P được khoảng 15 phút thì C đưa cho S số tiền 500.000đ để S mua chất ma túy, S cầm lấy tiền rồi một mình đi v o phòng l m răng của P hỏi mua ma túy. P lấy số ma túy heroine vừa mua được chia một ít vào mảnh giấy do S tự lấy tại nhà của P đặt ở nền nhà thì S đưa cho 500.000 đồng, sau khi mua được ma túy, S lấy túi nilon gói lại mang ra đến chỗ để e thì đưa cho C C cầm gói ma túy ở tay trái và điều khiển xe môtô chở S về nhà, khi về đến thôn N, xã B thì bị tổ công tác Công an huyện Pác Nặm kiểm tra, C thả gói ma túy ra đường thì bị bắt quả tang.
g y 21/10/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở và các công trình liên quan của Đặng Chòi P tại thôn P, xã N, huyện Pác Nặm. Quá trình khám xét phát hiện thu giữ tại khu vực chuồng lợn 01 gói nhỏ màu trắng bên trong có chất bột màu trắng nghi là chất ma tuý heroine.
Tại biên bản mở đóng ni m phong cân ác định khối lượng chất ma tuý hồi 20 giờ 30 phút ng y 20/10/2021 ác định: Khối lượng chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C5 thu giữ của H ăn C v Ho ng ăn S là 0,11g (không phẩy mười một gam). Sau khi cân đ ni m phong v o phong bì ký hiệu C6 gửi đi giám định.
Tại biên bản cân ác định khối lượng nghi chất ma tuý hồi 16 giờ 00 phút ng y 21/10/2021 ác định: Khối lượng chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu P1 tạm giữ khi khám xét nhà của Đặng Chòi P có khối lượng 0,14g (không phẩy mười bốn gam). Sau khi cân đ ni m phong v o phong bì ký hiệu P2 gửi đi giám định.
Tại Kết luận giám định số 176 ngày 23/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C6 là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,11 gam.
Tại Kết luận giám định số 177 ngày 25/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu P2 là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,14 gam.
Đặng Chòi P khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 20/10/2021, P điều khiển xe mô tô không biển kiểm soát của anh ông ăn C, trú tại thôn N, xã N đi đến khu vực Trung tâm y tế huyện B mua được một gói ma túy loại heroine trị giá 600.000 đồng của một người đ n ông không quen biết với mục đích mang về để sử dụng và bán lại kiếm lời. Khoảng 17 giờ cùng ngày, tại phòng l m răng trong nhà mình P bán cho S một ít ma túy được 500.000 đồng, chia ra một ít để sử dụng, số còn lại cất giấu ở mái nhà khu vực chuồng lợn. Sau đó đi đến tỉnh Cao B ng để chơi đến ngày 22/10/2021, sau khi biết tin việc mua bán ma túy cho S bị bại lộ, nên P đ đến Công an huyện Pác Nặm đầu thú, số tiền bán ma túy được, P đ sử dụng hết.
Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án gồm:
Hai phong bì ký hiệu P3, C7 bên trong chứa giấy gói và vỏ phong bì cũ; hai phong bì ký hiệu T176, T177 bên trong là mẫu giám định hoàn trả; một phong bì ký hiệu P bên trong chứa một túi nilon màu trắng và một mảnh giấy hình vuông, một mặt có chữ in, một mặt màu trắng và nhiều tài sản liên quan khác, một phong bì niêm phong ký hiệu C2 bên trong chứa một kim tiêm màu trắng đ qua sử dụng, một phong bì niêm phong ký hiệu C3 bên trong chứa 02 kim ti m chưa qua sử dụng, 01 (một) diện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu O O A38 m u v ng đồng đ qua sử dụng, bên trong có gắn hai thẻ sim, 01điện thoại di động lại bàn phím, nhãn hiệu Itel m u anh đ qua sử dụng có gắn một thẻ sim, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Ipone 6S m u v ng đồng đ qua sử dụng. Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng theo quy định.
Một xe mô tô biển kiểm soát 97B2-xxx.xx là của bà Lý Thị M sinh năm 19xx, trú tại thôn N, xã B, huyện Pác Nặm. Việc H ăn C và Ho ng ăn S sử dụng chiếc xe của b M để đi mua chất ma túy thì bà Mần không được biết, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đ trả lại cho chủ sở hữu.
Một giấy chứng minh thư nhân dân số 0961146xxx là của bị can P, không li n quan đến hành vi phạm tội Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đ trả cho chủ sở hữu.
T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 11/CT-VKSPN ngµy 27 th¸ng 5 n¨m 2022 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm ®· truy tè ®èi víi Đặng Chòi P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Ho ng ăn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; H ăn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đ¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm trong phÇn luËn téi ®· gi÷ nguyªn quyÕt ®Þnh truy tè ®èi víi các bÞ c¸o v đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Đặng Chòi P từ 18 Mười tám) tháng đến 21 Hai mươi mốt) tháng tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Ho ng ăn S từ 24 (hai mươi tư) tháng đến 30 ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo H ăn C từ 12 mười hai) tháng đến 15 mười lăm) tháng tù về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có khả năng thi h nh hình phạt bổ sung là phạt tiền n n đề nghị không áp dụng.
- Về vật chứng: Hai phong bì ký hiệu P3, C7 bên trong chứa giấy gói và vỏ phong bì cũ; hai phong bì ký hiệu T176, T177 bên trong là mẫu giám định hoàn trả; một phong bì ký hiệu P bên trong chứa một túi nilon màu trắng và một mảnh giấy hình vuông, một mặt có chữ in, một mặt màu, một phong bì niêm phong ký hiệu C2 bên trong chứa một kim tiêm màu trắng đ qua sử dụng, một phong bì niêm phong ký hiệu C3 bên trong chứa 02 kim ti m chưa qua sử dụng. Số vật chứng trên không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A38 màu v ng đồng đ qua sử dụng, bên trong có gắn hai thẻ sim. Chiếc điện thoại này là tài sản của H ăn C không li n quan gì đến hành vi phạm tội n n đề nghị trả lại cho bị cáo.
01 điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Itel m u anh đ qua sử dụng có gắn một thẻ sim. Chiếc điện thoại này là tài sản của Ho ng ăn S, không li n quan gì đến hành vi phạm tội n n đề nghị trả lại cho bị cáo.
01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đồng đ qua sử dụng. Chiếc điện thoại này là tài sản của Đặng Chòi P, không li n quan gì đến hành vi phạm tội n n đề nghị trả lại cho bị cáo.
Truy thu của bị cáo Phấu số tiền 500.000đ ăm trăm nghìn đồng) do phạm tội m có để sung công quỹ nh nước.
- Về án án phí: Các bị cáo l người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn có đơn in miễn án phí n n đề nghị miễn án phí cho các bị cáo.
* Các bị cáo thành khẩn, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến gì với quyết định truy tố và không có tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát.
* gười bào chữa cho các bị cáo đ trình b y lời bào chữa và tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát. gười bào chữa đ đưa ra những căn cứ pháp lý, trích dẫn các điều luật v các văn bản pháp luật khác để bào chữa cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, hoàn cảnh gia đình các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và xử các bị cáo với mức án thấp nhất trong mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
* Đại diện Viện kiểm sát, qua tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và nội dung luận tội đối với bị cáo.
Bị cáo P nói lời sau cùng: Bị cáo đ nhận thấy mình đ vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử em ét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo S nói lời sau cùng: Bị cáo đ nhận thấy mình đ vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử em ét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo C nói lời sau cùng: Bị cáo đ nhận thấy mình đ vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử em ét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các h nh vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố, vai trò, tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo C có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không biết chỗ bán n n đ rủ S cùng đi v đưa tiền cho S trực tiếp mua ma túy về cùng sử dụng; bị cáo S do nghiện chất ma túy n n khi được C rủ đi mua ma túy đ đồng ý và trực tiếp cầm tiền của C để mua ma túy về sử dụng; bị cáo P l người đ bán ma túy cho S nh m thu lợi bất chính. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
XÐt tÝnh chÊt hµnh vi các bÞ c¸o thùc hiÖn lµ nguy hiểm cho xã hội, ®· x©m ph¹m chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ c¸c chÊt ma tóy. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong khi các bị cáo có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, việc truy tố và xét xử bị cáo Đặng Chòi P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Ho ng ăn S và H ăn C về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự l có căn cứ đúng người đúng tội v đúng pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo Đặng Chòi P sinh ra và lới lên tại tỉnh Cao B ng, do hoàn cảnh gia đình n n không được đi học. Ngày 28/10/2021 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm khởi tố bị can về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2021 đến 28/10/2021, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương. Ngoài lần phạm tội này ra bị cáo chưa lần nào vi phạm pháp luật. Xét bị cáo do không được đi học nên nhận thức chưa đầy đủ về các quy định của pháp luật về ma túy dẫn đến phạm tội. Do đó khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức án phù hợp để đảm bảo răn đe phòng ngừa đồng thời đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Ho ng ăn S sinh ra tại tỉnh Cao B ng, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12 rồi nghỉ học ở nh lao động tự do, do có lối sống buông thả coi thường pháp luật nên ngày 28 tháng 10 năm 2021 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm khởi tố bị can về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2021 đến 28/10/2021 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Ngoài lần phạm tội này ra bị cáo đ từng bị xét xử một lần về tội ma túy đến nay chưa được xóa án tích và bị xử phạt hành chính một lần về hành vi đánh bạc trước khi xét xử vụ án này bị cáo lại có hành vi vi phạm về ma túy và bị bắt tạm giam. Bị cáo có nhân thân xấu.
Bị cáo H ăn C sinh ra tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 6/12 rồi nghỉ học ở nh lao động tự do, do ham chơi đua đòi nên ngày 28 tháng 10 năm 2021 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm khởi tố bị can về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2021 đến 28/10/2021, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương. Ngoài lần phạm tội này ra bị cáo chưa lần nào vi phạm pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Đặng Chòi P. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đ đến cơ quan điều tra đầu thú, sau khi phạm tội bị cáo đ lập công để chuộc tội (Ngày 14/6/2022 bị cáo đã cung cấp thông tin quan trọng và trực tiếp giúp Phòng PC04 Công an tỉnh Bắc Kạn triệt phá điểm mua bán trái phép chất ma túy tại thành phố Bắc Kạn và được Ph ng SĐTTP về ma túy ông an tỉnh Bắc Kạn đề nghị xem xét thành tích c a bị cáo tại công văn số 230/P 04 ngày 11/7/2022). Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp pháp luật.
Đối với bị cáo H ăn C và Ho ng ăn S quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội n n được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự l người phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Hội đồng xét xử xét thấy bản cáo trạng sè 11/CT-VKSPN ngµy 27 th¸ng 5 n¨m 2022 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm ®· truy tè ®èi víi Đặng Chòi P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Ho ng ăn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; H ăn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Về các nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX tại phiên tòa gồm:
- Áp dụng điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Đặng Chòi P từ 18 Mười tám) tháng đến 21 Hai mươi mốt) tháng tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Hoàng ăn S từ 24 (hai mươi tư) tháng đến 30 ba mươi) tháng tù về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Hà ăn C từ 12 mười hai) tháng đến 15 mười lăm) tháng tù về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. go i ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng và án phí.
Xét thấy các nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh điều luật áp dụng, về mức hình phạt và các vấn đề khác là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có khả năng thi h nh hình phạt bổ sung là phạt tiền nên không áp dụng là phù hợp.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Hai phong bì ký hiệu P3, C7 bên trong chứa giấy gói và vỏ phong bì cũ; hai phong bì ký hiệu T176, T177 bên trong là mẫu giám định hoàn trả; một phong bì ký hiệu P bên trong chứa một túi nilon màu trắng và một mảnh giấy hình vuông, một mặt có chữ in, một mặt màu, một phong bì niêm phong ký hiệu C2 bên trong chứa một kim tiêm màu trắng đ qua sử dụng, một phong bì niêm phong ký hiệu C3 bên trong chứa 02 kim tiêm chưa qua sử dụng. Số vật chứng trên không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
01 (một) diện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A38 màu v ng đồng đ qua sử dụng, bên trong có gắn hai thẻ sim. Chiếc điện thoại này là tài sản của H ăn C không li n quan gì đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
01điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Itel m u anh đ qua sử dụng có gắn một thẻ sim. Chiếc điện thoại này là tài sản của Ho ng ăn S, không li n quan gì đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng đồng đ qua sử dụng. Chiếc điện thoại này là tài sản của Đặng Chòi P, không li n quan gì đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. hưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Truy thu của bị cáo P số tiền 500.000đ ăm trăm nghìn đồng) do phạm tội m có để sung công quỹ nh nước.
Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 357 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Các bị cáo l người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn có đơn in miễn án phí. Theo quy định tại Điều 12 Điều 14 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n có căn cứ miễn án phí cho các bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Đối với người bán ma túy cho bị cáo Đặng Chòi P quá trình điều tra không ác định được họ t n địa chỉ cụ thể, do vậy không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô không biển kiểm soát mà bị cáo Đặng Chòi P sử dụng vào việc đi mua ma túy l t i sản của anh ông ăn C, trú tại thôn N, xã N, huyện Pác Nặm, tuy nhiên việc bị cáo P sử dụng chiếc xe vào việc mua ma túy thì anh C không được biết và không bị tạm giữ, do vậy không đề cập xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B2-xxx.xx là của bà Lý Thị M, sinh năm 19 , trú tại thôn N, xã B, huyện Pác Nặm. Việc H ăn C và Hoàng ăn S sử dụng chiếc xe của b M để đi mua chất ma túy thì b M không được biết, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đ trả lại cho chủ sở hữu. Việc trả lại chiếc xe củ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Đặng Chòi P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo 18 Mười tám) tháng tù được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 22/10/2021 đến ngày 28/10/2021. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Bị cáo Ho ng ăn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo 24 Hai mươi tư) tháng tù được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 20/10/2021 đến ngày 28/10/2021.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Bị cáo H ăn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù. được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 20/10/2021 đến ngày 28/10/2021. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 LHS Điều 106 BLTTHS
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm:
02 (hai) phong bì ký hiệu P3, C7 bên trong chứa giấy gói và vỏ phong bì cũ; 02 (hai) phong bì ký hiệu T176, T177 bên trong là mẫu giám định hoàn trả; một phong bì ký hiệu P bên trong chứa một túi nilon màu trắng và một mảnh giấy hình vuông, một mặt có chữ in, một mặt màu, 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu C2 bên trong chứa một kim tiêm màu trắng đ qua sử dụng, 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu C3 bên trong chứa 02 kim ti m chưa qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo H ăn C 01 (một) diện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu O O A38 m u v ng đồng đ qua sử dụng, bên trong có gắn hai thẻ sim.
- Trả lại cho bị cáo Ho ng ăn S 01điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Itel m u anh đ qua sử dụng có gắn một thẻ sim.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Chòi P 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6S m u v ng đồng đ qua sử dụng. Tuy nhi n cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Truy thu của bị cáo P số tiền 500.000đ ăm trăm nghìn đồng) do phạm tội m có để sung công quỹ nh nước.
Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 357 Bộ luật dân sự
Số lượng và tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/5/2022 giữa Công an huyện Pác Nặm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm.
3. Về án phí:Áp dụng Điều 12 Điều 14 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n. Miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện Pác Nặm ; - VKSND tỉnh, huyện Pác Nặm ; - Cơ quan CSĐT THA hình sự Công an huyện Pác Nặm; - Chi cục THADS ; - Sở tư pháp; - Bị cáo; gười bào chữa - Lưu hồ sơ; Lưu . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Tiến Đại |