vanban.org

Bản án 13/2022/HSPT-CTN — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại về xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Rơ Châm W. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại về xin hưởng án treo đối với bị cáo Rơ Châm W. Tuyên bố bị cáo Rơ Châm W phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "RƠ CHÂM W - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại về xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Rơ Châm W. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HSPT-CTN
Ngày 14/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh.

Các thẩm phán: Ông Lê Văn Hà và ông Phan Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự phúc thẩm chưa thành niên thụ lý số 16/2022/TLPT-HS-CTN ngày 04/10/2022, do có kháng cáo của bị cáo Rơ Châm W, bị hại H’S và đại diện hợp pháp của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Rơ Châm W, sinh năm 1997, tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Làng B, xã I, huyện Ii, tỉnh G; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Jarai; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông P và bà Rơ Châm N; Bị cáo có vợ là chị H’C và có 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Rơ Châm W: Luật sư Tống Đức N - Luật sư Văn phòng Luật sư H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị hại: Chị H’S, sinh ngày 23/5/2005; trú tại: Làng R, xã H, huyện Đ, tỉnh G. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại H’S: Bà P, sinh năm 1980 (mẹ ruột) và ông Y D, sinh năm 1986 (bố ruột); trú tại: Làng R, xã H, huyện Đ, tỉnh G. Có mặt.

- Người bảo về quyền lợi ích hợp pháp của bị hại H’ S: Luật sư Đặng Ngọc B – Luật sư của Văn phòng Luật sư B thuộc Đoàn Luật sự tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người phiên dịch: Bà Nay H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 4/2020 (không nhớ rõ ngày cụ thể), Rơ Châm W thông qua mạng xã hội Facebook với tài khoản “Hỏi làm gì” có nhắn tin làm quen với H’S với tài khoản Facebook “H’S”. Sau đó, giữa Rơ Châm W và H’S thường nhắn tin qua lại để tâm sự với nhau, mặc dù Rơ Châm W đã có vợ và 02 con nhưng vẫn nói dối với H’S là chưa có vợ nên H’S tin tưởng nhắn tin tâm sự với Rơ Châm W. Khoảng 20 ngày (không nhớ rõ ngày tháng cụ thể) trong tháng 4/2020 sau ngày W nhắn tin làm quen với H’S, Rơ Châm W điện có thoại rủ H’S đi lên thành phố Pleiku chơi nhưng H’S không đồng ý thì khoảng 21 giờ cùng ngày Rơ Châm W tiếp tục điện thoại cho H’S hỏi địa chỉ nơi ở, sau đó Rơ Châm W đi một xe mô tô cùng với V (là em họ hàng của W) trú cùng thôn chở theo bạn gái của V đi xuống nhà của H’S tại làng R, xã H, huyện Đ, G chơi; sau đó Rơ Châm W, V và bạn gái V ngủ lại tại phòng ngủ của H’S, ngay trong lần gặp đầu tiên.

Khi nằm ngủ thì V và bạn gái V nằm ngủ trên gường của H’S, còn Rơ Châm W và H’S trải chiếu nằm dưới nền nhà lát gạch trong phòng ngủ của H’S. Trong lúc nằm ngủ thì Rơ Châm W nằm ôm, sờ soạn lên người và hôn lên môi của H’S thì H’S đẩy W ra không đồng ý thì W tiếp tục ôm H’S và đòi hỏi quan hệ tình dục. Lúc đầu H’S không đồng ý cho Rơ Châm W quan hệ tình dục và nói cho W biết mình còn nhỏ tuổi, sợ có thai thì W nói dối với H’S là chưa lấy vợ nếu có thai thì W sẽ cưới H’S làm vợ nên H’S tin tưởng, tự nguyện để cho Rơ Châm W cởi quần của H’S và tự cởi quần của mình để thực hiện hành vi giao cấu với H’S, thời gian quan hệ tình dục khoảng 10 đến 15 phút thì Rơ Châm W xuất tinh trong âm đạo của H’S. Sau khi quan hệ tình dục lần đầu, Rơ Châm W và H’S tự mặc quần và nằm ngủ đến khoảng 05 giờ hôm sau thì Rơ Châm W, V và bạn gái V dậy đi về huyện Ia G, tỉnh G.

Thời gian sau đó, nhiều lần Rơ Châm W đến nhà của H’S chở đi chơi vào ban đêm tại thành phố P và nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu ở nhiều nơi khác nhau; cụ thể:

- Vào ban đêm của năm 2020 (không nhớ rõ ngày, tháng), trong quá trình Rơ Châm W chở H’S về nhà tại làng R, xã H, huyện Đ. Khi đi qua đoạn đường vắng, không có nhà dân và người đi qua lại thuộc địa bàn xã H, huyện Đ thì Rơ Châm W dừng xe ở trên đường và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với H’S. Tổng cộng đã có 05 lần Rơ Châm W thực hiện hành vi quan hệ tình dục với H’S trên đường đi thuộc địa bàn xã H, Đ (do trời tối nên Rơ Châm W và H’S không nhớ được địa điểm cụ thể), tất cả các lần đều quan hệ tự nguyện.

- Trong tháng 06/2020 (không xác định được thời gian cụ thể), Rơ Châm W chở H’S đi chơi tại thành phố P, tỉnh G. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày Rơ Châm W nảy sinh ý muốn quan hệ tình dục với H’S nên W đã chở H’S đến thuê phòng ngủ số 2 nhà nghỉ “T”, tại làng K, xã I, huyện I, G do ông Nguyễn Duy T là chủ nhà nghỉ. Tại đây Rơ Châm W và H’S đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau. Qua kiểm tra sổ sách thì chủ nhà nghỉ không ghi chép sổ lưu trú nên không xác định chính xác thời gian W và H’S đến thuê phòng.

- Vào khoảng 19 giờ ngày 10/7/2020, Rơ Châm W chở H’S đi chơi đêm tại thành phố P, tỉnh G. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì W chở H’S về, trên đường đi về thì W nảy sinh ý muốn quan hệ tình dục với H’S nên dẫn H’S đến thuê phòng ngủ số 5 của nhà nghỉ “A” tại số A đường T, tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Tại đây Rơ Châm W và H’S đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với nhau.

Sau lần quan hệ tình dục với Rơ Châm W vào ngày 10/7/2020 thì H’S phát hiện Rơ Châm W đã có vợ và 02 con nên nảy sinh mâu thuẫn, H’S không gặp Rơ Châm W nữa. Sau đó H’S phát hiện đã có thai với Rơ Châm W, đến ngày 23/2/2021 thì sinh bé gái (đặt tên H’S) nên gia đình H’S đã viết đơn tố giác gửi đến cơ quan CSĐT Công an huyện Đak Đoa để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Bản Kết luận giám định huyết thống số 372/C09C-Đ3 ngày 31/5/2021 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng xác định: H’S là con đẻ của H’S với Rơ Châm W.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 859/C09C-Đ3 ngày 12/7/2021 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng xác định: Độ tuổi của H’S tại thời điểm giám định (tháng 7/2021) là 16 năm 6 tháng đến 17 năm. Độ tuổi của H’S tại thời điểm quan hệ tình dục lần đầu (tháng 4/2020) là từ 15 năm 3 tháng đến 15 năm 9 tháng.

Căn cứ Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự, thời điểm Rơ Châm W có quan hệ tình dục lần đầu với H’S (tháng 4/2020) thì tuổi của H’S là 15 năm 3 tháng và thời điểm Rơ Châm W có quan hệ tình dục lần cuối cùng với H’S (ngày 10/7/2020) thì tuổi của H’S là từ 15 năm 6 tháng.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Rơ Châm W về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 04/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

- Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 280; 357; 584; 585; 586; 590 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Điều 143 và Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Rơ Châm W phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Rơ Châm W 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về dân sự: Buộc bị cáo Rơ Châm W phải bồi thường cho bị hại H’S số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo Rơ Châm W đã bồi thường số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng). Bị cáo Rơ Châm W phải tiếp tục bồi thường cho bị hại H’S số tiền còn lại là 105.000.000 đồng (một trăm lẻ năm triệu đồng).

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

3. Kháng cáo của bị cáo và bị hại:

- Trong thời hạn luật định, bị cáo Rơ Châm W xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

- Bị hại H’S và người đại diện hợp pháp của bị hại bà P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo Rơ Châm W được hưởng án treo.

4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm:

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường thêm cho bị hại số tiền 50.000.000đ thể hiện thái độ ăn năn hối cải, tuy nhiên mức án phù hợp nên kháng cáo của bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

5. Luật sư bào chữa cho bị cáo Rơ Châm W có kiến: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi 02 con nhỏ, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường thêm cho bị hại số tiền 50.000.000đ thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

6. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có ý kiến: Giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để giúp đỡ gia đình.

7. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có ý kiến: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo đã bồi thường thêm cho bị hại số tiền 50.000.000đ, được người bị hại và đại diện hợp pháp xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã xét xử. Có đủ cơ sở để kết luận:

Từ tháng 4/2020 đến tháng 7/2020 tại địa bàn huyện I; thành phố P và huyện Đ, tỉnh G, Rơ Châm W đã có hành vi nhiều lần quan hệ tình dục với bị hại cháu H’S khi mới 15 năm 3 tháng đến 15 năm 9 tháng tuổi. Hậu quả làm cháu H’S có thai và sinh con là cháu H’S vào ngày 23/02/2021.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Rơ Châm W về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” với tình tiết tăng nặng định khung “phạm tội 2 lần trở lên” và “làm nạn nhân có thai” theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại về xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo thấy rằng:

- Đây là vụ án bị cáo phạm tội có khung hình phạt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người bị hại mà còn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của bị hại. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là phù hợp với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Nhưng xét thấy sau khi xét xử sơ thẩm tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã bồi thường thêm cho bị hại 50.000.000đ tiếp tục thể hiện thái độ ăn năn hối cải để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa phúc thẩm được người bị hại và đại diện hợp pháp xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Rơ Châm W không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại về xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Rơ Châm W. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại về xin hưởng án treo đối với bị cáo Rơ Châm W.

3. Tuyên bố bị cáo Rơ Châm W phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

4. Về hình phạt: Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Rơ Châm W 04 (bốn) năm, 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Rơ Châm W không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

7. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ