vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 02/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vàng A S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 76,87 gam Heroine và 31,28 gam Methamphetamine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng A S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày: 02-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khanh

Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Đoàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Xà

Ông Lê Quang Nhuận

Ông Bùi Khắc Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Phượng - Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 28/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 18/11/2022 đối với bị cáo.

Vàng A S (tên gọi khác: Không) sinh ngày 01/8/1990, tại tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Thái D (đã chết); Con bà Giàng Thị T, sinh năm 1960; Gia đình bị cáo có 11 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Có vợ là Thào Thị D, sinh năm 1993 và có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/7/2022, tạm giam từ ngày 07/7/2022 cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Vàng A S: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền, Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt).

- Người phiên dịch cho bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vàng A Chống – Sinh năm 1987; Địa chỉ: Bản Ma Thì Hồ 1, xã Ma Thì Hồ, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên (có mặt).

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Giàng Thị Súa (tên gọi khác Giàng Thị Sua) - Sinh ngày 01/7/1972 (vắng mặt).

- Trú tại: Bản Nậm Chẩn, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

2. Cháu Vàng Thị Sai – Sinh ngày 12/12/2012 (vắng mặt).

- Trú tại: Bản Nậm Chẩn, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

- Người đại diện cho cháu Vàng Thị Sai: bà Quàng Thị Nhâm (Giáo viên chủ nhiệm lớp học); Trú tại: Bản Chiềng Khoang, thị trấn Tuần Giáo, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 21/6/2022 Vàng A S đi từ nhà ở Bản Nậm Chẩn, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên mang theo 17 triệu đồng mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời, S điều khiển xe máy biển kiểm soát 27L1 – 011.48 đi đến khu vực mốc 4 biên giới Việt – Lào, thuộc bản Huổi Sang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. S để xe máy ở cạnh đường rồi đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái quốc tịch Lào, sau khi trao đổi, thỏa thuận S mua được 01 gói Heroine và 02 túi Methamphetamine với giá 17 triệu đồng, bên ngoài được gói bằng túi nilon màu trắng, S cất giấu gói ma túy vào túi áo đang mặc đi bộ đến chỗ để xe máy và điều khiển xe máy đi về cất giấu gói ma túy ở bụi tre phía sau nhà.

Đến khoảng 10 giờ ngày 26/6/2022, Vàng A S đang ở nhà thì có 01 người đàn ông dân tộc Thái đi xe máy (S không nhớ rõ biển số xe) đến nhà đặt vấn đề mua bán ma túy, S nói sẽ đi mua ma túy rồi báo lại sau, hai bên cho nhau số điện thoại. Khoảng 09 giờ ngày 29/6/2022 S nhận được điện thoại, S nói đã có 02 cây Heroine và 02 túi Methamphetamine, hai bên hẹn nhau thời gian địa điểm mua bán, khoảng 10 giờ cùng ngày S ra bụi tre sau nhà lấy gói ma túy cho vào túi áo đang mặc điều khiển xe máy biển kiểm soát 27L1 – 011.48, đi đến khu vực đường đi bản Huổi Sái Lương, xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên để trao đổi mua bán trái phép ma túy với một người đàn ông thì bị tổ công tác phát hiện bắt giữ cùng vật chứng: gói chất bột màu trắng có khối lượng 77,84 gam, gói các viên nén màu hồng có khối lượng 32,37 gam, lợi dụng sơ hở người mua đã bỏ chạy thoát.

Tại bản Kết luận giám định số 972/KL-KTHS ngày 07/7/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng A S gồm 77,84 gam chất bột màu trắng và 32,37 gam các viên nén màu hồng. Tổng cộng khối lượng 02 chất là 110,21 gam.

- 02 mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Vàng A S gửi đến giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

- 02 mẫu các viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Vàng A S gửi đến giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 94/CT-VKSTĐB-P1, ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố Vàng A S để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, Điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng A S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vàng A S 20 (hai mươi) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 76,87 gam Heroine và 31,28 gam Methamphetamine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel bàn phím cơ.

Trả lại cho bà Giàng Thị Súa (tên gọi khác Giàng Thị Sua) 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA màu đỏ xám đen, loại Ware RSX; số máy: JA31E-0070322; Số khung: RLHJA3109EY021147, biển kiểm soát 27L1-011.48.

Trả lại cho cháu Vàng Thị Sai, sinh ngày 12/12/2012 (con gái của bị cáo) 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màn hình cảm ứng.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A S.

Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, mặt khác số ma túy đã kịp thời bị thu giữ chưa phát tán ra ngoài xã hội, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị xét xử về một tội danh nào khác, chưa bị xử lý hành chính, tại thời điểm phạm tội vợ bị cáo đang đi cai nghiện tập trung tại Trung tâm cai nghiện của tỉnh, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang phải trực tiếp nuôi dạy ba con còn nhỏ; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vàng A S, đề nghị áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo sớm có cơ hội được trở về với gia đình và xã hội; trả lại cho bà Vàng Thị Sua chiếc xe máy và cháu Vàng Thị Sai chiếc điện thoại. Bị cáo không bổ sung thêm bài bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng bị cáo Vàng A S thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo có ba con còn nhỏ dại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội được trở về với vợ con và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ, ngày 29/6/2022 bị cáo bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phối hợp với Công an xã Quảng Lâm; Công an xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực bản Huổi Sái Lương, xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang bị cáo Vàng A S đang trao đổi mua bán trái phép 77,84 gam Heroine và 32,37 gam Methaphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 51-52); biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng (BL 63-66); kết luận giám định (BL 77) và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để xác định ngày 29/6/2022 bị cáo Vàng A S đã có hành vi mua bán trái phép 77,84 gam Heroine và 32,37 gam Methaphetamine.

Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

… h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Cáo trạng số 94/CT-VKSTĐB-P1, ngày 15/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Xét hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác, ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại thời điểm phạm tội bị cáo là người lao động chính trong gia đình và phải trực tiếp nuôi dạy ba con còn nhỏ dại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ để cân nhắc hình phạt phù hợp với điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo; bởi sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế; điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Do đó, đề nghị của người bào chữa là có căn cứ để chấp nhận một phần.

Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và các quy định của pháp luật. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích bán kiếm lời, tuy đã được các cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn kịp thời; nhưng khối lượng chất ma túy mà bị cáo trao đổi mua bán trái phép lớn, nếu không được các cơ quan chức năng ngăn chặn kịp thời thì hậu quả mà bị cáo gây ra cho xã hội là rất nghiêm trọng, biết bao nhiêu gia đình phải tan vỡ, nghèo nàn vì tệ nạn ma túy gây ra; do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để trừng trị bị cáo và làm bài học, cảnh báo chung cho toàn xã hội, đảm bảo sự trừng phạt đối với người phạm tội; răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp chính của bị cáo trước khi bị bắt là làm nông nghiệp, lao động tự do, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế khó khăn; nếu có áp dụng thì bị cáo cũng không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ để chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an huyện Mường Nhé, phối hợp với Cục hải quan tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 76,87 gam Heroine và 31,28 gam Methamphetamine là chất ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel bị cáo dùng vào việc liên lạc, trao đổi mua bán trái phép chất ma túy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA màu đỏ xám đen, loại Ware RSX; số máy: JA31E-0070322; Số khung: RLHJA3109EY021147, biển kiểm soát 27L1-011.48 bị cáo mượn của bà Giàng Thị Súa để vận chuyển trái phép chất ma túy, bà Súa không biết nên cần trả lại cho bà Giàng Thị Súa.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màn hình cảm ứng, bị cáo dùng vào việc liên lạc, trao đổi mua bán trái phép chất ma túy là của cháu Vàng Thị Sai (con gái của bị cáo), cháu Sai không biết, nên cần trả lại cho cháu Vàng Thị Sai.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các vấn đề khác:

Theo lời khai của bị cáo, đối với người đàn ông dân tộc Thái đến mua ma túy của bị cáo, do bị cáo không biết rõ nhân thân lai lịch của đối tượng đó ở đâu, nên không có căn cứ đế điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng A S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vàng A S 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2022.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 76,87 gam Heroine và 31,28 gam Methamphetamine là ma túy còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Itel đã qua sử dụng, loại bàn phím bấm.

- Trả lại cho bà Giàng Thị Súa (tên gọi khác Giàng Thị Sua) 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA màu đỏ đen, loại Ware RSX; số máy: JA31E-0070322; Số khung: RLHJA3109EY021147, biển kiểm soát 27L1-011.48.

- Trả lại cho cháu Vàng Thị Sai, sinh ngày 12/12/2012 (con gái của bị cáo) 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màn hình cảm ứng.

+ Người đại diện cho cháu Vàng Thị Sai: bà Quàng Thị Nhâm (Giáo viên chủ nhiệm lớp học); Trú tại: Bản Chiềng Khoang, thị trấn Tuần Giáo, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

(Theo Biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 15/11/2022 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A S.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Vàng A S có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/12/2022).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ