vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trong trường hợp người cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 100 Luật thi hành án Hình Sự

Khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Lê Văn L với thời gian là 15 (mười lăm) tháng, mỗi tháng 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) về tội” Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Trong trường hợp người cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 100 Luật thi hành án Hình Sự
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2022/HS-ST
Ngày 24 /2/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Dũng

Ông Phan Văn Hưng

- Thư ký phiên tòa: ông Phan Thanh Hà - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Ngân- chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 2 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 2 năm 2022 đối với các bị cáo

1.Bị cáo Trần Văn P, tên gọi khác: không - sinh ngày 15 tháng 5 năm 1986 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 12, xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam,; tôn giáo: Thiên chúa giáo, quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Tuyết và bà Lê Thị Bình . Vợ: Chu Thị Hoa và 3 con Tiền án: Ngày 09/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội” Đánh bạc” tại bản án số 109/2019/HSST.Bị cáo chưa thi hành 200.000 đồng án phí HSST của bản án này nên chưa được xóa án tích.Tiền sự: không. Bị can bị tạm giữ tạm giam từ ngày 13/10/2021 đến ngày 11/12/2021.Từ ngày 12/12/2021 đến nay bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt

2.Bị cáo Lê Văn L (tên gọi khác): không. Sinh ngày 21/7/1977 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm 12 xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: lao động tự do, trình độ văn hóa: 7/12. Dân tộc: kinh, giới tính: nam. Tôn giáo: thiên chúa giáo, quốc tịch : Việt Nam. Con ông Lê Văn Kính và bà Trần Thị Chắt. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ từ ngày 13/10/2021 đến ngày 19/10/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt 3. Bi cáo Trần Văn Đ ( tên gọi khác): không. Sinh ngày 01/1/1983 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm 5 xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: lao động tự do, trình độ văn hóa: 7/12. Dân tộc: kinh, giới tính: nam. Tôn giáo: không, quốc tịch : Việt Nam. Con ông Trần Văn Quỳnh và bà Phạm Thị Hòa. Vợ: Trần Thị Hiểu và 2 con. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ từ ngày 13/10/2021 đến ngày 19/10/2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt 4. Bị cáo Lê Văn C ( tên gọi khác): không. Sinh ngày 03/11/1993 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm 12 xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: làm ruộng, trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: kinh, giới tính: nam. Tôn giáo: Thiên chúa giáo, quốc tịch : Việt Nam. Con ông Lê Văn Cừ và bà Trần Thị Sâm. Vợ: Đinh Thị Huyền.Con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ từ ngày 13/10/2021 đến ngày 19/10/2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt Người làm chứng: Anh Trần Văn Kim- sinh năm 1968 (vắng mặt) Địa chỉ: xóm 5 xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/10/2021 Lê Văn L, Lê Văn C, Trần Văn P, Trần Văn Đ và Trần Văn Kim đều trú tại xã Phúc Thành, huyện Yên Thành chơi bi- a tại quán Trà Huế. Tại đây Lê Văn L nói” về nhà thằng Đề rút xì cho vui” nghĩa là Lê Văn L rủ những người này đánh bạc thì những người này đồng ý. Trần Văn Đ về nhà trước, Lê Văn L, Lê Văn C, Trần Văn P, Trần Văn Kim đi đến sau. Trên đường đi Trần Văn P mua 2 bộ bài tú lơ khơ mang đến. Khoảng 14h 30 phút cùng ngày Liên, Chinh, Đề, Pháp bắt đầu đánh bài, hình thức đánh “xì dách”, thắng thua bằng tiền, đặt cược mỗi ván 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Khoảng 15h 30 khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác công an huyện Yên Thành phát hiện bắt quả tang, thu giữ hai bộ bài tú lơ khơ, thu trên bàn uống nước 5.200.000 đồng, thu trong người Trần Văn Đ 280.000 đồng, Trần Văn P 4.200.000 đồng, Lê Văn L 3.250.000 đồng. Trên cơ sở điều tra và lời khai nhận của các đối tượng chứng minh được số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau: Trần Văn Đ sử dụng 1.580.000, Trần Văn P 2.500.000 đồng, Lê Văn L 3.050.000 đồng, Lê Văn C sử dụng 1.000.000 đồng, tổng cộng các đối tượng sử dụng 8.130.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm 2 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, một bộ màu đỏ một bộ màu xanh, thu giữ số tiền 8.100.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc,

Cáo trạng số: 14/VKS-HS ngày 06/01/2022 của VKSND huyện Yên Thành, Nghệ An truy tố các bị can Trần Văn P, Lê Văn L, Lê Văn C, Trần Văn Đ về Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo như sau: Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điềm h khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38,58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn P 7-9 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trù thời hạn tạm giữ từ ngày 13/10/2021 đến ngày 11/12/2021 và từ ngày 21/5/2019 đến ngày 24/5/2019 tại bản án số 109/2019 ngày 9/10/2019

Áp dụng khoản 1 điều 321, Điều 36 điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 15-18 tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời hạn tạm giữ đối với bị cáo. Khấu trừ thu nhập của bị cáo Lê Văn L mỗi tháng từ 400.000 đồng- 500.000 đồng

Áp dụng khoản 1 điều 321, điều 35, điểm i,s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn C 20.000.000- 22.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điều 35, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 20.000.000 – 22.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

- Xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.130.000 (tám triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc

Tịch thu tiêu hủy 2 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ loại 52 quân, một bộ màu đỏ, một bộ màu xanh đã chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự huyện Yên Thành

-Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo Trần Văn P có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung với bị cáo. Đối với Lê Văn L, Trần Văn Đ, Lê Văn C đã khấu trừ thu nhập và áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo nên không xử phạt bổ sung.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016 của UBTVQH buộc các Trần Văn P, Lê Văn L, Lê Văn C, Trần Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Trần Văn P, Lê Văn L, Lê Văn C, Trần Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có cơ sở kết luận: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 13/10/2021 tại nhà Trần Văn Đ (xóm 5 xã Phúc Thành huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) công an huyện Yên Thành phát hiện bắt quả tang Trần Văn P, Trần Văn Đ, Lê Văn L, Lê Văn C đang đánh bạc bằng hình thức dùng bài tú lơ khơ đánh” xì dách”, thắng thua bằng tiền thì bị công an huyện Yên Thành phát hiện bắt quả tang. Số tiền chứng minh các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc là 8.130.000 đồng (tám triệu một trăm ba mươi nghìn đồng). Do đó hành vi của các bị cáo Trần Văn P, Lê Văn L, Lê Văn C, Trần Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố là đúng người đúng tội, đúng pháp luật Đây là một vụ án ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trên địa bàn và quần chúng nhân dân bất bình. Hành vi đánh bạc đã đẫn đến các hành vi phạm tội khác như trộm cắp tài sản, cho vay lãi nặng... Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được tác hại của việc đánh bạc, các bị cáo cùng nhau đánh bài theo bộc phát không có bàn bạc tổ chức, đồng phạm giản đơn nhưng cũng cần phân hóa vai trò, tính chất hành vi và nhân thân các bị cáo để căn cứ áp dụng hình phạt phù hợp.

- Đối với bị cáo Trần Văn P:

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo. Năm 2019 bị cáo bị xét xử về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, bị có tham gia đánh bạc với số tiền 2.500.000 đồng vì vậy cần phải xử lý với hình phạt tù nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo tu dưỡng bản thân tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cũng cần xem xét giảm nhẹ khi xử phạt bị cáo.

- Đối với bị cáo Lê Văn L: bị cáo Lê Văn L là người sử dụng số tiền cao nhất trong bốn bị cáo khi đánh bạc: 3.050.000 nên cũng cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên cũng xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo phạt cải tạo không giam giữ với hình phạt từ 15-18 tháng, khấu trừ thu nhập hàng tháng trong thời gian cải tạo từ 400.000 đồng- 500.000 đồng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng phù hợp

- Đối với bị cáo Trần Văn Đ, Lê Văn C: Bị cáo Trần Văn Đ và Lê Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Trần Văn Đ, Lê Văn C được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo. Cả hai bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc không đáng kể, ít nhất trong 4 bị cáo. Bị cáo Đề sử dụng số tiền 1.580.000 đồng , bị cáo Chinh sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Bị cáo Đề là chủ nhà, đồng ý cho các bị cáo khác tham gia đánh bạc tại nhà mình và bản thân bị cáo cũng tham gia đánh bạc do đó cần xử phạt mức hình phạt cao hơn bị cáo Chinh mới tương xứng. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xử phạt các bị cáo hình phạt tiền từ 20-22 triệu đồng như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp

Hình phạt bổ sung: xét bị cáo Trần Văn P có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung với bị cáo. Đối với Lê Văn L, Trần Văn Đ, Lê Văn C đã khấu trừ thu nhập và áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không xử phạt bổ sung đối với các bị cáo

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 8.130.000 đồng là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc, 1 bộ bài tú lơ khơ 52 quân màu đỏ là công cụ dùng vào việc đánh bạc, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

Đối với Lê Văn Kim là đối tượng có mặt tại nhà Trần Văn Đ khi các bị cáo đánh bạc, tuy nhiên quá trình điều tra kết luận Lê Văn Kim chỉ ngồi xem chứ không đánh, do đó không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Văn Kim

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn P 7 (bảy) tháng tù về tội ” Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được tính trừ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo, từ ngày 13/10/2021 đến ngày 11/12/2021 và từ ngày 21/5/2019 đến ngày 24/5/2019 tại bản án số 109/2019 ngày 9/10/2019.

Áp dụng khoản 1 điều 321,điều 36 điểm i,s khoản 1 điều 51,58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn L 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ 06 (sáu) ngày từ ngày 13/10/2021 đến ngày 19/10/2021 được quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bÞ c¸o Lê Văn L cho UBND xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám s¸t, gi¸o dôc ®èi víi bÞ c¸o. Thêi h¹n c¶i t¹o kh«ng giam gi÷ ®èi víi bÞ c¸o ® îc tÝnh tõ ngµy c¬ quan, tæ chøc ® îc giao gi¸m s¸t, gi¸o dôc, ng êi bÞ kÕt ¸n nhËn ® îc quyÕt ®Þnh thi hµnh ¸n vµ b¶n ¸n. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 100 Luật thi hành án Hình Sự

Khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Lê Văn L với thời gian là 15 (mười lăm) tháng, mỗi tháng 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1 điều 321, điều 35 điểm i, s khoản 1 điều 51, 58 Bộ luật hình sự, Bộ luật hình sự

- Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) về tội” Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn C 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) về tội” Đánh bạc”.

- Về xử lý vật chứng : Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 bộ luật tố tụng hình sự :

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 8.130.000 đồng (tám triệu một trăm ba mươi nghìn đồng)

(Vật chứng hiện chuyển vào tài khoản tạm gửi chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành số tại ngân hàng Công thương Việt Nam)

-Tịch thu tiêu hủy 2 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, một bộ màu xanh, một bộ màu đỏ (Vật chứng hiện chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số NK 057 ngày 23/2/2022)

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Văn P, Lê Văn L, Trần Văn Đ, Lê Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Các bị cáo ® îc quyÒn kh¸ng c¸o lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n s¬ thÈm.

Cỡ chữ